14:27 | 10/10/2018

Năm 2018, kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng hơn 6,8%

Ngày 10/10, tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) đã tổ chức Tọa đàm công bố Báo cáo kinh tế vĩ mô quý III/2018. 

Vẫn là cân bằng chính sách kinh tế vĩ mô
IMF hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu
Thủ tướng: Rất nhiều cơ hội từ triển vọng tăng trưởng của Việt Nam

Theo TS. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng VEPR, mục tiêu tăng trưởng 6,5%-6,7% của năm 2018 do Quốc hội đề ra hầu như chắc chắn sẽ thực hiện được.

Trước đó, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng sản phẩm nội địa (GDP) quý III/2018 tăng trưởng tích cực ở mức 6,88% và tính chung 9 tháng đầu năm GDP tăng 6,98% so với cùng kỳ năm trước - mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2011 đến nay.

“Nhiều khả năng kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng hơn 6,8% trong năm nay”, TS. Nguyễn Đức Thành dự báo.

TS. Nguyễn Đức Thành

Tuy nhiên, ông Thành cũng lưu ý, trong bối cảnh chiến tranh thương mại và chủ nghĩa bảo hộ đang diễn ra, tương lai của nền kinh tế Việt Nam còn rất bất định trước các cú sốc từ thị trường thế giới.

TS. Nguyễn Đức Thành cảnh báo, quý III/2018 tiếp tục chứng kiến lượng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động nhiều bất thường (24.501 doanh nghiệp), tăng tới 76% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi số doanh nghiệp thành lập mới không tăng lên nhiều, việc doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tăng cao bất thường thời gian gần đây khiến cho mục tiêu đạt 1 triệu doanh nghiệp vào năm 2020 càng trở nên không dễ dàng.

Về lạm phát, trong năm 2019, nếu giá nhiên liệu thế giới tiếp tục ở mức cao, Việt Nam áp kịch trần thuế môi trường đối với xăng dầu thì theo tính toán sơ bộ của VEPR, chỉ riêng sự thay đổi này có thể làm tỷ lệ lạm phát trong vòng 1 năm tới tăng thêm 1,6 điểm phần trăm. Mức mục tiêu 4% như những năm vừa qua sẽ khó đạt được trong bối cảnh bất lợi như vậy.

“Lạm phát năm 2019 sẽ vượt xa mức mục tiêu 4% mà Chính phủ và Quốc hội đặt ra cho những năm gần đây. Thay vì đặt ra những mục tiêu chưa được tính toán kỹ, Chính phủ thời gian tới cần có những biện pháp mạnh để kiềm chế rủi ro lạm phát tăng cao”, Báo cáo khuyến nghị.

Trong khi đó, dòng vốn vào chịu những tác động tiêu cực khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) liên tục tăng lãi suất chính sách (dự kiến còn một lần nữa trong năm 2018 và ba lần nữa trong năm 2019). Ngoài ra, sự gia tăng lãi suất của Fed cũng gây áp lực lên lãi suất nội tệ nhằm ổn định tỷ giá và phòng ngừa lạm phát.

Về tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, các chuyên gia của VEPR cho rằng, mặc dù chúng ta không đối đầu thương mại trực tiếp với Mỹ nhưng cán cân thương mại có thể chịu ảnh hưởng gián tiếp qua kênh Trung Quốc. 

Tuy nhiên, các quốc gia nhỏ láng giềng với Trung Quốc như Việt Nam, trong ngắn hạn, có thể được hưởng lợi từ cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung nếu như có chính sách tỷ giá phù hợp cũng như tận dụng được làn sóng đầu tư từ Trung Quốc dịch chuyển sang.

Nhưng trong trung hạn, nếu Việt Nam không có kế hoạch cải thiện năng suất lao động thì lợi thế rất dễ mất vào tay các nước có nguồn nhân lực rẻ hơn và năng suất được cải thiện nhanh hơn.

Thêm vào đó, Việt Nam cần kiện toàn cơ chế thị trường để tránh đòn trừng phạt từ Mỹ và đối tác đối với các nước có nền kinh tế phi thị trường theo Hiệp định tự do thương mại Bắc Mỹ (NAFTA) giữa 3 cường quốc Mỹ, Canada và Mexico.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.270 23.360 26.266 26.738 29.086 29.552 200,70 207,79
BIDV 23.280 23.370 26.323 26.616 29.275 29.553 205,71 207,96
VietinBank 23.270 23.370 26.220 26.725 29.033 29.593 204,31 208,06
Agribank 23.250 23.345 26.131 26.483 29.001 29.439 20307 206,37
Eximbank 23.260 23.360 26.246 26.597 29.175 29.565 205,19 207,93
ACB 23.280 23.360 26.290 26.628 29.295 29.598 205,35 207,99
Sacombank 23.283 23.375 26.322 26.681 29.267 29.627 205,32 208,39
Techcombank 23.250 23.360 26.035 26.752 28.883 29.706 203,88 209,19
LienVietPostBank 23.240 23.340 26.078 26.535 29.106 29.516 20335 20705
DongA Bank 23.290 23.370 26.320 26.630 29.230 29.600 203,90 207,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.280
36.480
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.280
36.460
Vàng SJC 5c
36.280
36.480
Vàng nhẫn 9999
35.230
35.630
Vàng nữ trang 9999
34.880
35.580