14:03 | 14/10/2019

Nâng cao vai trò kinh tế hợp tác, hợp tác xã

Ngày 14/10, tại Hà Nội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tổ chức Diễn đàn Kinh tế hợp tác, hợp tác xã năm 2019

Tham dự Diễn đàn có Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ cùng 500 đại biểu đại diện Lãnh đạo các bộ, ban, ngành trung ương, các tổ chức chính trị - xã hội, lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Liên minh hợp tác xã 63 tỉnh, thành phố, các chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế, một số hiệp hội ngành nghề, doanh nghiệp liên kết và hơn 200 lãnh đạo hợp tác xã.

Kinh tế hợp tác, hợp tác xã (HTX) được khẳng định là một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế, hiện đang đóng góp 10% GDP của cả nước và đặc biệt có vai trò quan trọng trong mục tiêu kinh tế tăng trưởng bền vững, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo và cải thiện môi trường.

Đến tháng 9/2019, cả nước có khoảng 1.500 HTX sản xuất, kinh doanh gắn với chuỗi giá trị thị trường trong nước và nước ngoài, áp dụng công nghệ cao, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn sản phẩm, ký kết hoạt động tiêu thụ sản phẩm dài hạn với doanh nghiệp. Các HTX đã giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm sản xuất, hỗ trợ giống, vốn, kỹ thuật, thông tin và tiêu thụ sản phẩm… góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập, giảm nghèo cho người dân địa phương.

Toàn cảnh diễn đàn

Phát biểu khai mạc Diễn đàn, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh, kinh tế tập thể (KTTT), HTX có vai trò quan trọng với nền kinh tế - xã hội. Thực tế đã chứng minh, trong mỗi giai đoạn phát triển, KTTT, HTX luôn luôn có đóng góp quan trọng. Bước sang thời kỳ đổi mới, KTTT, HTX mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng vẫn luôn nỗ lực, tự đổi mới vươn lên và ngày càng thể hiện đúng vai trò, bản chất HTX, đặc biệt là từ khi có Luật HTX năm 2012 đã thể hiện được tư duy mô hình HTX kiểu mới, hạt nhân là hợp tác, góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Trong thời gian qua, kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng có nhiều biến động, nguồn ngân sách còn hạn hẹp nhưng khu vực HTX vẫn hoạt động khá ổn định, một số nơi số lượng HTX tăng đều qua hằng năm, phát triển khá đồng đều trên khắp các vùng miền, chất lượng hoạt động được nâng lên.

Tính đến ngày 31/12/2018, có 22.861 HTX (trong đó có 13.856 HTX nông nghiệp, 1.183 Quỹ Tín dụng nhân dân và 7.822 HTX phi nông nghiệp), thu hút gần 6 triệu thành viên tham gia.

Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho biết, đóng góp của khu vực HTX thông qua hai kênh đó là trực tiếp của HTX vào trong nền kinh tế và đóng góp gián tiếp qua HTX thành viên, thành viên tổ hợp tác. Đây là xu hướng mới trong thời gian qua. HTX đóng vai trò quan trọng đối với kinh tế hộ, cá thể thành viên thông qua tạo việc làm, giảm chi phí đầu vào, cải thiện thu nhập, xóa đói giảm nghèo... Trong thời gian qua đã xuất hiện các HTX có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, đạt doanh thu cao.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, khu vực HTX phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, tốc độ tăng trưởng chậm, thiếu ổn định, một số HTX chưa tuân thủ nghiêm quy định của pháp luật, năng lực nội tại còn yếu, chưa tiếp cận được vốn vay của các tổ chức tín dụng; sự liên kết, hợp tác giữa các HTX với nhau và với doanh nghiệp còn hạn chế, vai trò của Liên hiệp HTX chưa được phát huy…

Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh, để đưa KTTT, HTX thoát khỏi những tồn tại, hạn chế, phát triển tốc độ cao hơn, tiến tới ngày càng có tỷ trọng cao hơn trong GDP của nền kinh tế thì việc ban hành và triển khai các chính sách hỗ trợ cũng như sự ưu đãi của Nhà nước đối với khu vực này là rất quan trọng.

Trồng nấm linh chi sạch ở HTX Long Khánh- Đồng Nai

Theo quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012, Nhà nước có 6 chính sách hỗ trợ đối với hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã (Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; Xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường; Ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới; Tiếp cận vốn và quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã; Tạo điều kiện tham gia các chương trình mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế - xã hội; Thành lập mới hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã), 2 chính sách ưu đãi (Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác theo quy định của pháp luật về thuế; Ưu đãi lệ phí đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí).

Riêng đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, ngoài việc được hưởng chính sách hỗ trợ, ưu đãi quy định nêu trên, còn được hưởng 5 chính sách hỗ trợ, ưu đãi khác (Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng; Giao đất, cho thuê đất để phục vụ hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của pháp luật về đất đai; Ưu đãi về tín dụng; Vốn, giống khi gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh; Chế biến sản phẩm).

Các chính sách này đã được cụ thể hóa trong Chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015- 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2261/QĐ-TTg ngày 15/12/2014. Bên cạnh đó, nhiều địa phương đã ban hành và thực hiện các chính sách hỗ trợ riêng nhằm khuyến khích các HTX phát triển, phù hợp với khả năng và đặc điểm của địa phương.

Tuy nhiên, công tác triển khai còn rất nhiều hạn chế. Có chính sách hầu như chưa thực hiện được như chính sách hỗ trợ về kết cấu hạ tầng. Một số chính sách có thực hiện nhưng hiệu quả chưa cao như chính sách ưu đãi tín dụng, chính sách hỗ trợ chế biến sản phẩm… Chính vì vậy, mặc dù có rất nhiều chính sách, nhưng trên thực tế, số lượng hợp tác xã được hưởng chính sách hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước chưa nhiều.

“Việc tổ chức Diễn đàn về Kinh tế hợp tác, hợp tác xã thường niên vào dịp kỷ niệm Ngày HTX Việt Nam là rất có ý nghĩa, là dịp để các HTX và các cơ quan quản lý Nhà nước, các đoàn thể, hiệp hội nhận diện rõ hơn các cơ hội, thách thức, những vấn đề mới trong phát triển KTHT, HTX nước ta nói riêng và thế giới nói chung; thực hiện vai trò chuyển tải những khó khăn, vướng mắc của cộng đồng HTX tới các cơ quan Chính phủ”, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng khẳng định.

Với chủ đề “Cơ chế, chính sách để phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã”, Diễn đàn tập trung trao đổi những khó khăn, vướng mắc khi triển khai các chính sách hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước đối với HTX như: chính sách đất đai, hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng đối với HTX; những giải pháp thúc đẩy xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ cho nông sản Việt Nam; tăng cường khả năng huy động nguồn lực về vốn, nhân lực chất lượng cao; chính sách ưu đãi về thuế, tiền lương, phí và lệ phí…

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.280
41.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.280
41.500
Vàng SJC 5c
41.280
41.520
Vàng nhẫn 9999
41.210
41.660
Vàng nữ trang 9999
40.700
41.500