08:45 | 17/01/2019

Nâng đáy VN-Index

So với mức đáy gần 860 điểm tạo ra ngày 4/1, VN-Index đã có nhiều phiên giao dịch cải thiện cả về điểm số lẫn thanh khoản. Các mức đáy ngắn hạn của VN-Index dần được nâng lên vùng 880 điểm rồi 900 điểm để giảm đi những lo ngại về một đợt giảm sâu hơn nữa.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 16/1
Chứng khoán chiều 16/1: Dòng tiền dè dặt

Từ ngày 9 đến 15/1, khối ngoại đã có 5 phiên liên tiếp mua ròng sàn HoSE, đáng chú ý là hai ngày 10 và 11 có giá trị mua ròng đạt gần 140 tỷ đồng và 170 tỷ đồng. Trong 5 phiên này, VN-Index chỉ giảm nhẹ ngày 14/1, còn lại các ngày khác đều tăng, cho thấy hai điều: Nhiều cổ phiếu (CP) đã có giá hấp dẫn để thu hút dòng tiền cả trong lẫn ngoài nước. Sự thận trọng cũng từng bước được gỡ bỏ khi nhà đầu tư sẵn sàng mua vào ngay cả những phiên tăng.

Sự thận trọng của các NĐT đang dần được gỡ bỏ

Cũng phải nói thêm là giá trị giao dịch tại HoSE đang biến động quanh ngưỡng 2.000 tỷ đồng/phiên, dù không phải là quá cao tuy nhiên sự ổn định này lại cho thấy tâm lý nhà đầu tư được củng cố. Việc cắt lỗ, đảo danh mục đã diễn ra, trong khi đó với những ai có lãi thì việc bán ra cũng thực hiện một cách chừng mực từ tốn hơn.

Điểm sáng kế tiếp chính là động thái của khối ngoại cũng củng cố tâm lý của thị trường chung nhiều hơn, giúp các nhà đầu tư trước đó còn dè dặt thì giờ cũng từng bước tính đến chuyện quay lại thị trường. Nhưng hoạt động mua ròng của khối ngoại hiện cũng khá tập trung thay vì lan tỏa trên diện rộng, chỉ những CP có catalyst (động lực) hoặc câu chuyện đặc biệt mới thu hút, những CP không có điểm gì nổi bật sẽ khó thu hút dòng tiền ngoại.

Nhìn rộng hơn thì từ 860 điểm, VN-Index vượt trở lại ngưỡng 900 điểm là một thành công về mặt tâm lý, kèm theo đó là một số CP tăng khoảng 5-10% làm giảm cơn khát tìm hàng sinh lãi. Chỉ một điểm băn khoăn là dường như những mặt hàng nổi trội của thị trường lại đang tập trung ở UPCoM với những cái tên như VEA, HVN, VTP… 

Từ 4 đến 14/1, VEA đã có 7 phiên tăng liên tiếp để từ mức giá 37.000 đồng/CP lên gần 42.000 đồng/CP, tức lãi gần 20% chỉ trong nửa tháng; mới giao dịch tại UPCoM vào ngày 23/11/2018 với giá chưa đến 100.000 đồng/CP nhưng phiên giao dịch 16/1 hôm qua, VTP đã tăng lên đến 150.000 đồng/CP, CP này cũng gia nhập nhóm CP có thị giá cao bậc nhất thị trường dù chỉ mới hiện diện ở UPCoM; cuối tháng năm ngoái, giá của HVN cũng chỉ đạt koảng 32.000 đồng/CP nhưng hiện nay đã tăng lên gần 37.000 đồng/CP.

Những CP hot nhất tập trung ở UPCoM chỉ ra một điều là dòng tiền hiện tại đang cực kỳ “thực dụng” khi chỉ tập trung vào nhóm hàng hóa có khả năng sinh lời thực sự. Tuy nhiên do dòng tiền còn khiêm tốn nên mức độ lan tỏa, hoặc dịch chuyển sau đó cũng rất khó đoán định. Nhà đầu tư chỉ có hai sự lựa chọn hoặc dò theo hướng đi của dòng tiền hoặc nếu không cần kiên trì nắm giữ CP có cơ bản tốt, tạo được đáy, có sức bật hơn là đảo hàng liên tục.

Một thống kê sơ bộ chỉ ra rằng, dù giảm sâu, nhưng hầu hết những CP có cơ bản tốt ít nhất đã cải thiện được 5% giá trị so với 1-2 tuần trước. Và như vậy cho dù có xảy ra những phiên rung lắc, điều chỉnh thì cũng chỉ là để nâng mức giá đáy cao hơn đáy trước đây mà thôi.

Hiện tại vùng 900-910 của VN-Index đang được xem là có tính kháng cự khá mạnh, và diễn biến phiên 16/1 đã nói lên điều đó, chỉ số này tăng khá tốt vào đầu giờ nhưng giảm dần vào buổi trưa và đầu giờ chiều trước khi nhích lên vào cuối giờ.

Một loạt CP cũng rung lắc từ giá xanh (tăng) sang đỏ (giảm) rồi lại về vàng (tham chiếu). Trước mắt, nếu trong 2 phiên cuối tuần này, VN-Index đóng cửa cuối phiên có thể trụ vững trên vùng 900-910 điểm thì nhà đầu tư có thể kỳ vọng mua thêm để chờ đợi cho những cơ hội tiếp theo.

Lúc này, những CP có cơ bản tốt nhưng chưa bật mạnh trong những phiên trước đây có thể có cơ hội nhưng nhà đầu tư cần kiên nhẫn từ T+5 tới T+10 thay vì chỉ giao dịch trong giai đoạn T+3. Trong trường hợp nếu diễn ra hoạt động điều chỉnh thì vùng hỗ trợ gần nhất có thể là 890 điểm.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.300 25.832 26.688 28.723 29.183 212,25 222,10
BIDV 23.180 23.300 25.838 26.582 28.706 29.191 212,63 218,02
VietinBank 23.162 23.292 25.841 26.636 28.674 29.314 212,77 219,27
Agribank 23.185 23.280 25.821 26.217 28.726 29.201 212,65 216,53
Eximbank 23.170 23.280 25.848 26.205 28.823 29.221 213,80 216,76
ACB 23.165 23.285 25.853 26.209 28.840 29.164 213,62 216,56
Sacombank 23.132 23.290 25.855 26.312 28.791 29.201 212,83 217,37
Techcombank 23.160 23.300 25.615 26.475 28.492 29.362 212,08 219,36
LienVietPostBank 23.170 23.290 25.792 26.269 28.862 29.291 213,35 217,29
DongA Bank 23.190 23.280 25.860 26.200 28.800 29.200 210,00 216,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
39.470
39.740
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
39.470
39.720
Vàng SJC 5c
39.470
39.740
Vàng nhẫn 9999
39.370
39.820
Vàng nữ trang 9999
39.020
39.820