08:47 | 10/10/2019

Năng lực cạnh tranh cải thiện nhất thế giới

Tăng 10 bậc trong Bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu 2019, Việt Nam trở thành quán quân trong cuộc đua cải thiện thứ hạng trong Bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu. Không những vậy, Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ lạm phát ổn định nhất thế giới và mức độ xảy ra khủng bố thấp nhất thế giới.

Xuất xứ hàng hóa và bài toán nâng cao năng lực cạnh tranh
Minh bạch để nâng cao năng lực cạnh tranh
Môi trường kinh doanh được cải thiện tích cực chính là điểm nhấn giúp năng lực cạnh tranh tăng

Cụ thể, trong xếp hạng chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) năm 2019 vừa được Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố hôm 9/10, với 61,5 điểm Việt Nam được xếp ở vị trí 67 trong số 141 quốc gia, tăng 10 bậc và 3,5 điểm so với năm ngoái. Vị trí 67 cũng là vị trí cao nhất của Việt Nam từ trước tới nay trên bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh. WEF ghi nhận: “Việt Nam (thứ 67) là quốc gia có điểm số được cải thiện nhiều nhất trên toàn cầu”.

“Đây rõ ràng là kết quả bước đầu minh chứng cho nỗ lực bền bỉ trong cải cách của Chính phủ Việt Nam trong thời gian qua. Việt Nam lần đầu tiên vươn lên trong nửa trên của bảng xếp hạng thế giới, vị trí 67 trên 141 nền kinh tế được xếp hạng”, TS.Vũ Tiến Lộc – Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam bình luận.

Bản báo cáo của WEF đánh giá khả năng cạnh tranh của 141 nền kinh tế trên toàn cầu dựa trên 12 trụ cột với 103 chỉ số thành phần, bao gồm tỷ lệ lạm phát, quy mô thị trường, hệ thống tài chính, thuế quan, môi trường kinh doanh, lực lượng lao động... Với mỗi trụ cột, WEF sử dụng thang điểm 100 để đánh giá nền kinh tế đó đã tiến gần mức trạng thái cạnh tranh lý tưởng hay mới sơ khai.

Trong 12 trụ cột của WEF, Việt Nam được đánh giá cao nhất tại Sức khỏe, với 81 điểm, đứng thứ 71. Thấp nhất là Năng lực Sáng tạo, chỉ được 37 điểm, đứng thứ 76. Dù vậy, lĩnh vực này đã có cải thiện so với năm ngoái. Nhìn chung, gần như tất cả lĩnh vực của Việt Nam đều tăng điểm.

Xét về các hạng mục chính, Việt Nam xếp hạng khá cao về chỉ số Market Size (Quy mô thị trường) - đứng thứ 26. Các chỉ số còn lại dao động từ hạng 41 đến hạng 93. Đáng chú ý, Việt Nam có hai chỉ số đạt cả 100 điểm: tỷ lệ lạm phát ổn định nhất thế giới và mức độ xảy ra khủng bố thấp nhất thế giới.

Nói về “tỷ lệ lạm phát ổn định nhất thế giới”, TS.Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế tài chính nhấn mạnh: Đây là kết quả của sự kiên định trong điều hành lấy ổn định vĩ mô là mục tiêu hàng đầu và sự phối hợp chặt chẽ nhịp nhàng trong điều hành vĩ mô cộng hưởng với nỗ lực cải cách thể chế cải thiện môi trường kinh doanh.

TS.Nguyễn Đức Độ cho biết, thời gian qua chỉ số lạm phát tăng nhẹ đều do các yếu tố tác động tăng tức thời như giá lương thực, thực phẩm giá dầu tăng… và do các yếu tố tác động tăng chủ động là do thực hiện việc điều chỉnh giá các dịch vụ công như giá dịch vụ y tế, giáo dục…

“Quan trọng là lạm phát cơ bản. Lạm phát cơ bản 5 năm nay vẫn tiếp diễn xu hướng gần như đi ngang với mức tăng chỉ 1,5 – 2 %. Lạm phát cơ bản đi ngang cho thấy chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ được điều hành tốt, phối hợp nhịp nhàng. Trong đó chính sách tiền tệ đóng vai trò quan trọng. Chính sách tiền tệ được điều hành chặt chẽ linh hoạt với mục tiêu ổn định vĩ mô, tốc độ tăng trưởng tín dụng và cung tiền phù hợp”, TS.Nguyễn Đức Độ bình luận.

Bên cạnh đó, điều hành tài khóa chặt chẽ, thâm hụt tài khóa và nợ công giữ trong giới hạn cho phép…  Thông điệp điều hành lấy ổn định vĩ mô là mục tiêu hàng đầu không đuổi theo thành tích tăng trưởng và việc điều hành vĩ mô tốt đã lấy lại niềm tin không làm kỳ vọng lạm phát gia tăng… đã góp phần ổn định lạm phát.

Việt Nam trong bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 2019

Trong khi theo TS.Vũ Tiến Lộc, việc tăng được 10 bậc trong bảng xếp hạng là kết quả của sự nỗ lực bền bỉ trong cải cách của Chính phủ. Cụ thể từ năm 2014 đến nay, năm nào Chính phủ cũng ban hành Nghị quyết 19 về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Tiếp nối các Nghị quyết 19, ngay ngày đầu năm 2019 này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021. Nghị quyết đặt mục tiêu năm 2019 chỉ số năng lực cạnh tranh của Việt Nam tăng từ 3 đến 5 bậc. Và Việt Nam đã tăng được 10 bậc.

Điểm lại những nỗ lực cải cách thể chế quan trọng nhất của Việt Nam thời gian qua đóng góp vào việc thăng hạng chỉ số này,  TS.Vũ Tiến Lộc cho biết đó là các nỗ lực ký kết và thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa 50% điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính kiểm tra chuyên ngành; Những chủ trương và giải pháp quan trọng thúc đẩy thực hiện Chính phủ điện tử và nền kinh tế số; Thực hiện cơ chế Một cửa quốc gia ASEAN; Xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo; Nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh ở các địa phương...

Tuy nhiên, theo Báo cáo năm nay của Diễn đàn Kinh tế Thế giới chất lượng thể chế Việt Nam vẫn đang bị đánh giá thấp, xếp thứ 89. Tính minh bạch đứng thứ hạng 101.

Bản báo cáo này cũng đưa ra thông điệp đáng chú ý là nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu sự tương quan giữa năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và sự phát triển bền vững, giữa năng lực cạnh tranh, mức độ gắn kết xã hội và cho thấy rằng không nhất thiết phải có sự đánh đổi giữa thành tựu kinh tế và phát triển bền vững, giữa câu chuyện thành công trong kinh tế và các vấn đề xã hội. Một nền kinh tế hoàn toàn có thể hướng đến và đạt được cả các mục tiêu này. Đây cũng là một khẳng định định hướng, xu hướng đúng đắn mà Chính phủ Việt Nam đang kiên định theo đuổi.

“Dù con đường cải cách còn chông gai, hành trình cải cách còn nhiều việc phải làm, nhưng những nỗ lực cải cách môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh ở Việt Nam mấy năm qua đã gặt hái những chùm quả ngọt”, Chủ tịch VCCI phát biểu.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.335 26.205 28.880 29.373 202,12 215,27
BIDV 23.140 23.260 25.413 26.164 28.948 29.506 208,34 215,15
VietinBank 23.125 23.255 25.353 26.218 28.841 29.481 211,21 217,21
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.371 25.721 29.002 29.403 212,52 215,46
ACB 23.130 23.250 25.388 25.737 29.078 29.405 212,49 215,42
Sacombank 23.100 23.260 25.378 25.833 29.020 29.423 211,76 216,32
Techcombank 23.131 23.271 25.150 26.145 28.685 29.595 211,04 218,21
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.300 25.775 29.019 29.449 211,98 215,89
DongA Bank 23.160 23.250 25.400 25.720 29.000 29.390 209,10 214,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.500
41.790
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.500
41.770
Vàng SJC 5c
41.500
41.790
Vàng nhẫn 9999
41.490
41.940
Vàng nữ trang 9999
40.970
41.770