08:00 | 08/01/2018

Ngân hàng cơ cấu lại nguồn vốn

Việc một số nhà băng điều chỉnh tăng nhẹ lãi suất huy động vào thời điểm này được xem là không có gì bất thường, chỉ mang yếu tố kỹ thuật để cân đối lại nguồn vốn. 

Lãi suất liên ngân hàng có xu hướng tăng dù NHNN bơm ròng hơn 18 nghìn tỷ
Lãi suất sẽ ổn định và có xu hướng giảm
Tiếp tục điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với cân đối vĩ mô, diễn biến lạm phát

Trong tuần qua, một số NHTM tăng nhẹ lãi suất huy động. Chẳng hạn như VPBank đã nâng lãi suất huy động VND ở tất cả các kỳ hạn thêm ít nhất 0,3% và nhiều nhất là 0,6%. Hiện huy động của NH này ở mức 5,3%/năm cho các kỳ hạn từ 1-5 tháng, đối với các món trên 100 triệu đồng thì lãi suất là 5,5%/năm (mức cũ trước điều chỉnh là 5%/năm). Lãi suất kỳ hạn 6 tháng cũng được VPBank điều chỉnh tăng từ 6,4% lên 7%/năm cho khoản tiền dưới 100 triệu đồng và dao động từ 7,1 đến 7,4%/năm cho khoản tiền lớn hơn.

Ảnh minh họa

Một vài NH lớn cũng điều chỉnh tăng nhẹ lãi suất huy động như BIDV tăng thêm khoảng 0,4 - 0,5%/năm đối với các kỳ hạn tiền gửi. Với các khoản tiền gửi kỳ hạn 1 tháng và 2 tháng, người gửi tiền được hưởng lãi suất 4,8%/năm, tăng 0,5% so với mức lãi suất cũ. Khoản tiền gửi kỳ hạn 3 tháng được nâng từ 4,8% lên 5,2%/năm, tương đương kỳ hạn 5 tháng. Tại VietinBank, các kỳ hạn từ 6 đến 9 tháng đã được NH này tăng mức lãi suất huy động từ 5,5-5,7% lên 5,8%/năm; lãi suất kỳ hạn 12 tháng tăng từ 6,5% lên 6,8%/năm.

Việc một số nhà băng điều chỉnh tăng nhẹ lãi suất huy động vào thời điểm này được xem là không có gì bất thường, chỉ mang yếu tố kỹ thuật để cân đối lại nguồn vốn. Phân tích nguyên nhân, có thể thấy rất nhiều yếu tố tác động đến quyết định điều chỉnh lần này.

Thứ nhất, vào thời điểm cuối năm, tranh thủ các DN trả lương, thưởng cho người lao động nên NH muốn tạo thêm sự hấp dẫn của kênh tiền gửi tiết kiệm, nhằm hút vốn. Nhưng đồng thời, yếu tố khiến các TCTD cần phải cân nhắc điều chỉnh lãi suất huy động theo hướng kỳ hạn dài lãi suất càng cao là nhằm cơ cấu lại nguồn vốn, đáp ứng lộ trình áp dụng quy định tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn với mức 45% từ 1/1/2018 và mức 40% từ 1/1/2019 mà NHNN vừa ban hành. Nhìn vào biểu lãi suất có thể thấy, các NH muốn khuyến khích người có tiền nhàn rỗi gửi ở mức từ 100 triệu đồng trở lên và kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.

Thứ hai, việc tăng lãi suất không phải do thanh khoản gặp khó khăn. Điều này được chứng minh bằng thống kê những tuần cuối năm 2017, lãi suất bình quân trên thị trường liên NH nhiều tuần có xu hướng giảm, thể hiện ở hầu hết các kỳ hạn chủ chốt. Cho đến thời điểm hiện tại, đường cong lãi suất vẫn ở trạng thái hợp lý.

Thứ ba, do tín dụng năm 2017 tăng ở mức 19%, đúng như định hướng từ đầu năm của NHNN là trong khoảng 18-20%, nên không có gì đột biến để khiến các NH phải lo nguồn. Trong khi đó, gần như các khoản cho vay giải ngân cấp vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh dịp Tết Nguyên đán đã hoàn tất, nên nhu cầu vốn này không đến mức căng thẳng. Với việc tăng lãi suất lần này cũng chỉ lác đác ở một vài NH, có lẽ đây là động thái chuẩn bị nguồn để cho vay năm 2018  - năm mà kinh tế được dự báo sẽ khởi sắc và nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh có thể cao hơn năm 2017.

Thứ tư, các chỉ đạo gần đây của Chính phủ và NHNN thời gian tới là tiếp tục điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với cân đối vĩ mô, diễn biến lạm phát và thị trường tiền tệ; phấn đấu giảm lãi suất cho vay phù hợp với điều kiện kinh tế vĩ mô. Bên cạnh đó, động thái quyết liệt hơn của ngành NH trong xử lý nợ xấu sẽ “giải phóng” lượng vốn đáng kể, hỗ trợ cho hoạt động của NH.

Bên cạnh đó, NHNN đã chỉ đạo các TCTD tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, nâng cao hiệu quả kinh doanh sẽ là cơ sở cho việc phấn đấu giảm lãi suất cho vay trong thời gian tới. Qua đó giúp các DN tiết giảm chi phí hỗ trợ tăng trưởng kinh tế tốt hơn... Theo đó, lãi suất cho vay cũng sẽ khó tăng vì các NH chắc chắn phải tính toán cẩn trọng để đảm bảo lãi suất hợp lý.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,30
6,40
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,80
4,80
4,90
6,00
6,10
6,70
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.740 22.810 27.902 28.236 31.703 32.211 208,81 212,80
BIDV 22.740 22.810 27.923 28.242 31.737 32.208 209,70 212,86
VietinBank 22.730 22.810 27.864 28.242 32.682 32.242 209,54 212,94
Agribank 22.740 22.815 27.975 28.306 31.015 32.453 209,68 212,96
Eximbank 22.720 22.810 27.881 28.244 31.809 32.222 209,77 212,50
ACB 22.740 22.810 27.895 28.244 31.908 32.227 209,89 212,52
Sacombank 22.733 22.825 28.947 28.309 31.901 32.260 210,03 213,07
Techcombank 22.720 22.820 27.632 28.360 31.941 32.803 208,68 214,20
LienVietPostBank 22.730 22.830 27.844 28.308 32.862 32.286 209,89 213,52
DongA Bank 22.745 22.815 27.930 28.250 31.840 32.220 208,90 212,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.830
37.030
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.830
37.010
Vàng SJC 5c
36.830
37.030
Vàng nhẫn 9999
36.880
37.280
Vàng nữ trang 9999
36.460
37.060