11:23 | 18/04/2019

Ngân hàng trung ương Úc chưa sớm cắt giảm lãi suất

Mặc dù NHTW Úc (Reserve Bank of Australia – RBA) đã thảo luận về việc cắt giảm lãi suất tại cuộc họp chính sách tháng 4, song đã kết luận rằng đó không phải là hành động trong tương lai gần.

RBA thừa nhận lãi suất không cần phải tăng trong giai đoạn tới và quyết định giữ nguyên lãi suất tại cuộc họp tháng 4. RBA cũng thừa nhận tác động của việc nới lỏng hơn nữa “sẽ nhỏ hơn so với trước đây” bởi vì nợ hộ gia đình cao và giá bất động sản giảm.

“Tuy nhiên, một mức lãi suất thấp hơn vẫn có thể được dự kiến ​​sẽ hỗ trợ nền kinh tế thông qua việc giảm giá đồng nội tệ và bằng cách giảm các khoản thanh toán lãi suất cần thiết khi vay, giải phóng tiền mặt cho các chi tiêu khác”, RBA cho biết trong Biên bản cuộc họp chính sách tháng 4 được phát hành hôm 16/4 ở Sydney.

Thống đốc RBA Philip Lowe đang ở trong một tình thế khá khó khăn: Nền kinh tế đang giảm tốc mạnh mẽ khi người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu để phản ứng với giá nhà đất giảm; tuy nhiên thuê mướn lao động và đầu tư vẫn mạnh và tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống mức thấp nhất trong 8 năm.

Biên bản cuộc họp “phù hợp với hành trình của RBA hướng tới một lập trường chính sách ôn hòa hơn kể từ đầu năm đến nay”, Sally Auld - một chiến lược gia cao cấp về lãi suất của JPMorgan Chase & Co. ở Sydney, người dự đoán RBA sẽ cắt giảm lãi suất trong tháng 7 và tháng 8 cho biết. “Phần thông tin mới trong Biên bản phát hành ngày hôm nay là hội đồng đã thảo luận về kịch bản cắt giảm lãi suất vào tháng Tư”.

Mặc dù xem triển vọng mạnh mẽ của thị trường lao động như một lý do chính để giữ nguyên lãi suất, song RBA cũng thừa nhận trong biên bản rằng “các chỉ số về nhu cầu lao động trong tương lai là khá hỗn tạp” trong những tháng gần đây. Nó đã đề cập đến sự mâu thuẫn giữa các kết quả yếu hơn về quảng cáo việc làm và kết quả mạnh mẽ hơn trong báo cáo bởi các nhà tuyển dụng.

“Biên bản cuộc họp của RBA đã củng cố cho quan điểm cắt giảm lãi suất, đặc biệt là nhận xét rằng các chỉ số nhu cầu lao động đã trở nên “hỗn tạp trong những tháng gần đây”. Tuy nhiên, RBA dường như đang tìm kiếm nhiều điểm dữ liệu hơn. Một yếu tố cân nhắc quan trọng khác sẽ là phản ứng trong tình cảm kinh doanh sau cuộc bầu cử sắp tới”, Tamara Henderson - nhà kinh tế về ASEAN, Úc và New Zealand của Bloomberg Economics nói.

RBA đã giữ lãi suất không đổi ở mức thấp kỷ lục 1,5% kể từ năm 2016 và sẵn sàng chịu đựng lạm phát yếu hơn nhằm tránh làm nóng thêm thị trường nhà đất đang bùng nổ. Giá tại Sydney đã giảm 14% so với mức đỉnh 2017, song vẫn tăng hơn 40% so với năm 2012.

Trên thực tế, các nhà hoạch định chính sách dường như cũng đã thừa nhận họ khó có thể để đẩy lạm phát đạt mục tiêu trong bối cảnh tăng trưởng tiền lương yếu ớt và cạnh tranh bán lẻ tăng cao... “Tăng trưởng yếu ớt trong thu nhập khả dụng của hộ gia đình và sự điều chỉnh trong thị trường nhà ở đã ảnh hưởng đến chi tiêu hộ gia đình”, RBA cho biết và lưu ý rằng, thu nhập hộ gia đình là rất quan trọng để đạt được mục tiêu là tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn và lạm phát nhanh hơn.

RBA dự kiến ​​sẽ phát hành bản cập nhật dự báo kinh tế hàng quý vào tháng tới và các nhà kinh tế dự đoán RBA sẽ cắt giảm triển vọng tăng trưởng sau khi nền kinh tế giảm tốc từ mức mở rộng gần 4% hàng năm trong nửa đầu năm ngoái xuống còn 1% trong 6 tháng sau đó.

“Hội đồng quản trị sẽ tiếp tục theo dõi diễn biến, bao gồm cả sự căng thẳng hiện tại giữa GDP trong nước và thị trường lao động, và sẽ thiết lập chính sách tiền tệ để hỗ trợ nền kinh tế tăng trưởng bền vững cũng như đạt được mục tiêu lạm phát theo thời gian”, RBA cho biết. Được biết, lạm phát tại Úc chỉ đạt hoặc dưới mức thấp nhất của khoảng mục tiêu 2-3% của RBA trong vài năm qua.

Nguồn :

Tags:
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.330 23.450 25.912 26.717 29.401 29.872 204,59 212,65
BIDV 23.330 23.450 25.885 26.632 29.407 29.903 208,86 214,15
VietinBank 23.312 23.442 25.842 26.577 29.246 29.886 209,24 215,74
Agribank 23.345 23.440 25.885 26.281 29.418 29.901 209,17 212,95
Eximbank 23.320 23.430 25.885 26.242 29.476 29.882 209,87 212,76
ACB 23.330 23.430 25.871 26.226 29.469 29.799 210,07 212,96
Sacombank 23.289 23.442 25.911 26.367 29.544 29.950 208,95 213,54
Techcombank 23.310 23.450 25.649 26.510 29.170 30.050 208,37 215,56
LienVietPostBank 23.320 23.460 25.845 26.323 29.534 29.969 209,56 213,48
DongA Bank 23.340 23.430 25.930 26.230 29.510 29.880 206,50 212,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.280
36.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.280
36.450
Vàng SJC 5c
36.280
36.470
Vàng nhẫn 9999
36.360
36.760
Vàng nữ trang 9999
35.850
36.400