08:00 | 03/02/2019

Ngân hàng Việt bước cùng toàn cầu

Khi cánh cửa hội nhập ngày càng được mở rộng, thì việc nhà băng Việt “đem chuông đi đánh xứ người” là tất yếu. Việc này đã diễn ra cả chục năm nay, song có thể nói 2018 là một năm nhộn nhịp của Ngân hàng Việt trên đấu trường khu vực và thế giới, được ghi nhận là lĩnh vực dẫn đầu vốn đầu tư Việt Nam ra nước ngoài trong suốt cả năm 2018.

Ngân hàng Việt với nỗ lực khẳng định mình

Tư duy “bước ra toàn cầu”

Lào và Campuchia là hai thị trường được lựa chọn hàng đầu hiện nay của các Ngân hàng Việt trong chiến lược mở rộng mạng lưới tại nước ngoài. Hiện không ít nhà băng đã thành lập ngân hàng con 100% tại Lào, như Sacombank, VietinBank, SHB... và tháng 10/2018 có thêm sự hiện diện của Vietcombank. Cũng trong tháng 10/2018, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã phê duyệt hồ sơ xin cấp phép thành lập văn phòng đại diện tại thành phố New York (tiểu bang New York, Hoa Kỳ) của Vietcombank. Đại diện nhà băng này khẳng định “đây là bước tiến mang tính chiến lược, bởi lần đầu tiên một NHTM Việt Nam thiết lập hiện diện tại Mỹ - một trong những quốc gia sở hữu khung pháp lý minh bạch, hoàn thiện và cơ chế quản lý, giám sát chặt chẽ bậc nhất trên thế giới”.

Đồng chí Trần Quốc Vượng (thứ 5 từ phải sang) - Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư thăm và làm việc với Vietcombank Lào

Không chỉ là hiện diện, mà các ngân hàng còn liên tục mở rộng vùng phủ sóng tại các quốc gia này. Đơn cử cuối tháng 11/2018, VietinBank Lào đã chính thức khai trương chi nhánh thứ hai tại Thủ đô Viêng Chăn - Lào. Tiếp đó, trung tuần tháng 12/2018, SHB Lào cũng đưa vào hoạt động chi nhánh Savannakhet - chi nhánh thứ hai của ngân hàng này tại đất nước Triệu Voi.

Nhiều chuyên gia nhìn nhận, chiến lược đầu tư ra nước ngoài của các NHTM Việt Nam tương đối thận trọng khi triển khai đầu tư trực tiếp. Theo đó, các nhà băng thường lựa chọn địa chỉ đầu tư ở những nền kinh tế thuộc khu vực lân cận và phù hợp với tiêu chuẩn và nguồn lực ngân hàng; và thường xuất phát từ việc đồng hành cùng các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài; nhắm tới khách hàng là Việt kiều, người Việt Nam đang làm việc tại nước ngoài, DNNVV và các tầng lớp dân cư có nhu cầu giao thương với Việt Nam. “Khác với các NHTM khác trên thế giới, thay vì thực hiện M&A, các NHTM Việt Nam lựa chọn thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh và công ty con ở nước ngoài để thực hiện chiến lược tăng trưởng”, một chuyên gia nhận định.

Kết quả kinh doanh của phần lớn ngân hàng Việt hiện diện tại nước ngoài nhiều năm qua cho thấy sức cạnh tranh của các NHTM Việt Nam đang từng bước được nâng cao, bắt đầu thu được kết quả kinh doanh khả quan khi đầu tư ra nước ngoài. Nhà băng Việt đang dần thích nghi tốt với môi trường hoạt động tại nước ngoài và nỗ lực đáp ứng các yêu cầu pháp lý của nước sở tại. Hoạt động của các ngân hàng tại nước ngoài cũng đã hỗ trợ đắc lực cho các nhiệm vụ bảo đảm an ninh, quốc phòng, ngoại giao của Việt Nam. NHNN đã kết hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng được khuôn khổ pháp lý quy định chi tiết các thủ tục, xây dựng được mối quan hệ hợp tác song phương mật thiết với NHTW các nước bạn nhằm tăng cường hỗ trợ đầu tư.

Nền kinh tế Việt Nam đang có độ mở khá lớn, nhất là trong bối cảnh hội nhập ngày càng mạnh mẽ thì cơ hội mang lại cho các ngân hàng Việt Nam cũng lớn dần theo. Song cơ hội không tự nó biến thành lợi ích, cũng không tự nó chuyển thành sức mạnh kinh tế, thành năng lực cạnh tranh trên thị trường. Thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng tác động đến đâu còn tuỳ thuộc vào phản ứng của chủ thể. Nếu tận dụng tốt cơ hội, sẽ đẩy lùi được thách thức và tạo ra cơ hội mới lớn hơn và ngược lại. Nói như vậy, để thấy tư duy “bước ra toàn cầu” của nhà băng Việt cần được nhận diện và đối diện một cách bài bản và rõ ràng.

Đi chậm nhưng chắc

Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển cho rằng khi xây dựng kế hoạch kinh doanh hàng năm, hay chiến lược phát triển, doanh nghiệp thường bắt đầu từ chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận. Nhưng doanh nghiệp cần phải nhận thức rõ ràng rằng: tăng doanh thu và tăng lợi nhuận chỉ là kết quả của tăng thị phần hàng hoá và dịch vụ mà mình cung cấp. Vì vậy, điểm xuất phát là tăng khả năng cạnh tranh. Doanh nghiệp cần căn cứ vào nguồn lực, khả năng, thế mạnh của mình để lựa chọn chiến lược cạnh tranh phù hợp: Cạnh tranh trên thị trường đã có đối thủ - “Đại dương đỏ” và ở thị trường chưa có đối thủ - “Đại dương xanh”.

Kinh nghiệm từ nhiều ngân hàng trên thế giới chỉ ra rằng việc bước chân vào thị trường nước ngoài cũng mang lại những bài học phong phú và không phải cứ “hễ đi là sẽ đến”. Trong một nghiên cứu của nhóm nghiên cứu thuộc Học viện Ngân hàng, khảo sát có nêu ra trường hợp Ngân hàng ABN-Amro (Hà Lan), sau một thời gian đầu tư ra nước ngoài đã gặp khó khăn do quá nôn nóng mở rộng ra nước ngoài, không tuân thủ quy định của quốc gia sở tại. Còn kinh nghiệm thành công từ HSBC cho thấy ngân hàng này đã triển khai kế hoạch “Chiếc ghế ba chân” tập trung vào thị trường từ dễ đến khó, đi từ khu vực châu Á - Thái Bình Dương đến Hoa Kỳ, Vương quốc Anh...

Bài học không bao giờ cũ đối với các doanh nghiệp nói chung, trong đó có ngân hàng nói riêng đó là kinh doanh là nghề phải chấp nhận mạo hiểm. “Song phải nhớ rằng mạo hiểm khác với làm liều”, chuyên gia chia sẻ, bởi “chấp nhận mạo hiểm là trên cơ sở thu thập và xử lý đầy đủ thông tin, khả năng tư duy để đưa ra quyết định chính xác”. Với các NHTM, cần hiểu rõ bối cảnh đầu tư ra nước ngoài cả trên phương diện quốc gia, ngành và khả năng của ngân hàng mình. Bắt đầu từ những thị trường quen thuộc, sau khi có kinh nghiệm và đủ mạnh mới tính tới việc mở rộng sang các thị trường phát triển hơn.

Về phía cơ quan quản lý, kinh nghiệm thực tế cho thấy, chính phủ cần phối hợp để hài hoà hoá quy định quản lý giữa các quốc gia; đi cùng với đó là xây dựng chiến lược phát triển kinh tế tổng thể về đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam. Đồng thời phát huy vai trò của Hiệp hội Ngân hàng, các tổ chức xúc tiến đầu tư và các đại sứ quán trong việc thúc đẩy đầu tư trong lĩnh vực ngân hàng. Ví dụ như chiến lược “đi ra toàn cầu” của Trung Quốc được đưa ra cùng với các quy định pháp lý được ban hành đã hỗ trợ cho hoạt động ODI, với mục tiêu tăng khả năng hoạt động quốc tế của các ngân hàng Trung Quốc; ban hành chính sách về chuyển tiền và cho vay tại nước ngoài để tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư. Hay với Thái Lan, quốc gia này xoá bỏ kiểm soát vốn hoặc đàm phán hiệp ước về thuế hai lần đem lại lợi ích cho tất cả các công ty muốn mở rộng ra quốc tế; cải cách theo hướng nới lỏng các quy định đầu tư sang khu vực ASEAN.

Tiềm năng phát triển hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các NHTM Việt Nam còn khá lớn. Năm 2019 sẽ tiếp nối hành trình hội nhập của lĩnh vực tài chính - ngân hàng Việt Nam, không phải sẽ chỉ có “màu hồng”. Bởi thế, bản thân mỗi ngân hàng Việt phải thật sự nỗ lực hơn. Các NHTM Việt Nam có thể chinh phục thị trường ASEAN nhờ lợi thế cạnh tranh nhất định, NHTM Việt Nam tại nước ngoài sẽ trở thành cầu nối giúp doanh nghiệp Việt Nam dễ tiếp cận vốn vay, chuyển tiền về Việt Nam hoặc các dịch vụ khác mà các doanh nghiệp Việt khó có thể tiếp cận tại thị trường nước ngoài. Các thị trường mới nổi như Myanmar được nhận định sẽ giúp cho ngân hàng Việt Nam chiếm được lợi thế cạnh tranh khi là một trong những ngân hàng nước ngoài tham gia thị trường sớm nhất.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.150 23.250 26.035 26.766 29.602 30.076 202,43 210,81
BIDV 23.150 23.250 26.004 26.376 29.602 30.084 207,35 211,01
VietinBank 23.139 23.249 26.031 26.786 29.574 30.134 207,42 213,92
Agribank 23.155 23.235 25.966 26.340 29.351 29.807 207,68 211,26
Eximbank 23.140 23.240 26.010 26.358 29.690 30.087 208,24 211,02
ACB 23.160 23.240 25.998 26.439 29.744 30.173 207,94 211,46
Sacombank 23.157 23.259 26.064 26.468 29.761 30.171 207,35 211,93
Techcombank 23.130 23.250 25.782 26.505 29.379 30.223 206,80 212,32
LienVietPostBank 23.140 23.240 25.886 26.450 29.664 30.201 207,43 211,97
DongA Bank 23.170 23.240 26.020 26.310 29.460 29.820 207,30 211,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.800
37.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.800
37.000
Vàng SJC 5c
36.800
37.020
Vàng nhẫn 9999
36.800
37.200
Vàng nữ trang 9999
36.550
37.150