09:00 | 14/11/2019

Ngành gỗ trước vận hội mới

Qua kim ngạch xuất khẩu gỗ 10 tháng đầu năm 2019 vừa qua có thể thấy, doanh nghiệp nội địa trong ngành gỗ hiện đã giải quyết được nhiều vấn đề tồn tại trước đây. 

Gian lận thương mại là thách thức lớn nhất với ngành gỗ xuất khẩu
Không để tình trạng trục lợi, giả danh gỗ Việt để xuất khẩu
Thiếu nguyên liệu làm khó ngành gỗ

So với các ngành hàng xuất khẩu khác, doanh nghiệp ngành chế biến gỗ xuất khẩu 2019 được đánh giá là thành công. Theo ông Trần Anh Vũ, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến Gỗ tỉnh Bình Dương (Bifa), đến tháng 11/2019 giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản có mức tăng trưởng ổn định, từ 17% - 19% qua từng tháng, với mức tăng 10,6% về gỗ và tăng 19,5% về sản phẩm gỗ. 10 tháng đầu năm 2019, tổng giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của cả nước đạt hơn 9 tỷ USD, tăng gần 19% so với cùng kỳ năm 2018. Với đà tăng trưởng này, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ năm 2019 sẽ hoàn thành mục tiêu 11 tỷ USD. Thời gian tới, ngành này còn nhiều dư địa phát triển, với dự báo kim ngạch xuất khẩu năm 2020 có thể đạt từ 12 tỷ - 13 tỷ USD và năm 2015 đạt đến 20 tỷ USD.

Doanh nghiệp gỗ hiện đã giải quyết được nhiều vấn đề tồn tại trước đây

Ông Trần Anh Vũ cho rằng, ngành gỗ và chế biến gỗ Việt Nam hiện lớn về quy mô doanh nghiệp sản xuất và mạnh về xuất khẩu. Hiện có đến gần 5.000 doanh nghiệp, hộ gia đình đầu tư vào sản xuất, chế biến đồ gỗ xuất khẩu, đưa sản phẩm gỗ của Việt Nam chiếm 6% thị phần sản phẩm gỗ toàn cầu, đứng thứ 5 thế giới và đứng đầu khu vực Đông Nam Á về kim ngạch xuất khẩu. Thị trường nhập khẩu của đồ gỗ Việt cũng tăng nhanh, hiện đã là trên 120 quốc gia vùng lãnh thổ.

Điều này tạo dư địa phát triển tốt cho doanh nghiệp trong ngành. Bởi khi số lượng đơn hàng xuất khẩu lớn (đặc biệt là đồ gỗ nội thất trang trí theo phong cách cổ điển) sẽ đặt các doanh nghiệp sản xuất vào thế phải đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm để có thể đáp ứng được thị trường.

Thực tế sản xuất của các doanh nghiệp tại tỉnh Bình Dương (địa phương có số lượng doanh nghiệp ngành gỗ lớn nhất cả nước) cho thấy, tuy hiện nay sự chênh lệch doanh số kinh doanh giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp nội còn cao, nhưng doanh nghiệp Việt hiện nay đã chiếm được 50% tổng kim ngạch xuất đồ gỗ so với tỷ lệ trước đây chỉ vào khoảng 10% – 20%. Điều này chứng tỏ, doanh nghiệp ngành gỗ Việt đã phát triển mạnh trong việc đầu tư khâu thiết kế mẫu mã, trang thiết bị sản xuất, xây dựng thương hiệu đồ gỗ Việt… để sản phẩm có giá trị gia tăng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu.

Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP. Hồ Chí Minh (HAWA) cho biết, qua kim ngạch xuất khẩu gỗ 10 tháng/2019 vừa qua có thể thấy, doanh nghiệp nội địa trong ngành gỗ hiện đã giải quyết được nhiều vấn đề tồn tại trước đây.

Cụ thể như hiện chúng ta đã bớt phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, bước đầu cũng đã tạo được dấu ấn riêng biệt cho các sản phẩm đồ gỗ Việt, thậm chí ở một vài phân khúc, đã đủ sức phản kháng, cạnh tranh với hàng ngoại nhập.

Tuy nhiên, hiện các doanh nghiệp gỗ đang phải đối mặt với vấn đề mới, đó là tình trạng dịch chuyển sản xuất từ một số quốc gia khác vào Việt Nam, tạo sự tăng trưởng nóng trong ngành, dẫn đến thiếu hụt lao động, tăng giá thành sản phẩm và giảm chất lượng hàng xuất khẩu.

Theo ông Trần Anh Vũ, từ khi cuộc chiến thương mại Trung Quốc – Hoa Kỳ xảy ra, rất nhiều doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội thất nước ngoài hướng đến đẩy mạnh phát triển cơ sở sản xuất tại Việt Nam. Việc có dòng vốn đầu tư nước ngoài lớn chảy vào ngành gỗ và chế biến gỗ tại Việt Nam có cả hai mặt lợi và không lợi.

Trước mắt có thể thấy, làn sóng đầu tư vào ngành gỗ từ các dự án đầu tư nước ngoài sẽ gây khó khăn trong việc kiểm soát chất lượng dự án và nguy cơ phải tiếp nhận các dự án có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, không bảo đảm các yêu cầu về môi trường. Bên cạnh đó, ngành gỗ trong nước tăng chịu áp lực cạnh tranh, khiến doanh nghiệp nhỏ khó phát triển.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.200
41.440
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.200
41.420
Vàng SJC 5c
41.200
41.440
Vàng nhẫn 9999
41.160
41.580
Vàng nữ trang 9999
40.620
41.420