16:15 | 14/05/2019

Ngành Ngân hàng giảm nhiệt hút sinh viên

Từng là khối ngành “hot”, điểm đầu vào luôn cao chót vót, thu hút đông đảo thí sinh mỗi kỳ tuyển sinh đầu vào đại học, thời gian gần đây, khối ngành tài chính – ngân hàng đang dần giảm nhiệt.

Dù có mẹ đang công tác tại một ngân hàng lớn nhưng em Trần Nhật Tâm (lớp 12, trường Lê Quý Đôn, Hà Nội) vẫn quyết định chuyển hướng không đăng ký ngành Ngân hàng trong kỳ tuyển sinh đại học sắp tới. “Em quyết định chuyển hướng theo học ngành marketing vì nghe nói làm trong ngành Ngân hàng khá bận rộn và áp lực”, Nhật Tâm chia sẻ.

Áp lực công việc cao

Một, hai mùa tuyển dụng tập trung tổ chức định kỳ hàng năm cùng các đợt tuyển lớn nhỏ rải rác, hiếm có ngành nào mà hoạt động tuyển dụng lại rầm rộ như ngành Ngân hàng. Có những đợt tuyển dụng lên tới hàng nghìn người, nhưng ngược lại cũng không ít nhân sự đã rời bỏ ngành.

Căng thẳng, áp lực vẫn là nỗi ám ảnh chung của rất nhiều nhân viên ngành Ngân hàng. Chị Nguyễn Vân Anh (30 tuổi, Hà Nội), giao dịch viên mảng khách hàng doanh nghiệp lớn của một ngân hàng ở Hà Nội chia sẻ, khoảng thời gian đầu “gia nhập” giới nhân viên ngân hàng quả thật khủng khiếp đối với chị khi thường xuyên phải rời nơi làm việc vào lúc 9, 10h tối. “May tôi có gia đình hỗ trợ chứ không biết phải xoay sở như thế nào”, chị Vân Anh tâm sự.

Lê Thị Dung (29 tuổi, Hà Nội) nhân viên tín dụng của một ngân hàng cho hay, mới vào công ty được 6 tháng nhưng cũng “nếm mùi” sự vất vả của nhân viên ngân hàng. Công việc của Dung thường xuyên phải gặp khách hàng, nếu khách có nhu cầu mở thẻ là dù ở đâu, giờ nào chị cũng phải có mặt. Thậm chí, khi bị ốm, chị Dung cũng chỉ được nghỉ 2 ngày là đã phải quay trở lại công việc. “Sức ép công việc lớn, nếu nghỉ quá lâu tôi sẽ không thể hoàn thành chỉ tiêu”, chị Dung than thở.

Trong bối cảnh số lượng ngân hàng giảm, cạnh tranh nhân lực chất lượng cao khắt khe, áp lực công việc lớn… khối ngành tài chính – ngân hàng, từng có những năm thống trị các khối ngành về khả năng thu hút sinh viên thì những năm gần đây cũng đang chững lại.


Sinh viên Học viện Ngân hàng trong ngày hướng nghiệp

Học viện Ngân hàng mới đây cũng đã công bố phương án tuyển sinh 2019. Theo đó, tổng chỉ tiêu tuyển sinh 2019 của Học viện là 3.730, vẫn không thay đổi so với năm 2018 dù ngành này đang khá “khát” nhân lực. Nhiều trường đại học, cao đẳng, cơ sở đào tạo trong khối ngành này cũng không tăng chỉ tiêu tuyển sinh cho năm 2019.

Nhóm ngành nào sẽ hot?

Theo ông Trần Anh Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP. Hồ Chí Minh các nhóm ngành nghề đón đầu cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 vì thế cũng “lên ngôi”.

Theo đó, có 6 nhóm ngành sẽ khá “hot” trong thời gian tới: Nhóm 1 là Công nghệ thông tin (phân tích dữ liệu, kỹ thuật phần mềm, an ninh mạng,...) và công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh tài chính và nhiều lĩnh vực khác. Nhóm 2, công nghệ tự động hóa (cơ điện tử, điện tử, điều khiển tự động, chế tạo ô tô, chế tạo vật liệu). Nhóm 3, các ngành kỹ thuật xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng cao cấp, năng lượng, công nghệ in 3D. Nhóm 4, các ngành thuộc lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ chế biến, kỹ thuật y sinh (tích hợp kỹ thuật số - vật lý - sinh học),... Nhóm 5, nhóm ngành quản trị, dịch vụ quản trị tài chính - đầu tư, logistics, du lịch, dinh dưỡng,... Nhóm 6, nhóm ngành nghệ thuật, xã hội, nhân văn và sáng tạo (như kiến trúc, thiết kế, dịch thuật,...).

Ngoài ra, 8 ngành nghề mà lao động có kỹ năng tay nghề cao được 10 nước ASEAN thống nhất công nhận giá trị tương đương của chứng chỉ đào tạo của các nước thành viên là dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ điều dưỡng, kiến trúc, giám sát thi công, kế toán, bác sĩ, nha sĩ, du lịch dự kiến sẽ thu hút thí sinh trong thời gian tới.

Nắm bắt nhu cầu phát triển của xã hội, năm 2019, nhiều trường đại học trên cả nước tuyển sinh những ngành học mới như: robot và trí tuệ nhân tạo, kinh doanh số, khoa học thông tin địa không gian... để đáp ứng với yêu cầu của thời kỳ kỷ nguyên số. Đây là ngành học hoàn toàn mới, dự báo trong tương lai những ngành này trở thành ngành “hot”.

Một số trường đại học tại Hà Nội cũng mở một số ngành kinh tế mới, lạ. Đơn cử, trường Đại học Kinh tế Quốc dân mở thêm một số ngành như: Ngành đào tạo kinh doanh số, quản trị điều hành thông minh, đầu tư tài chính, công nghệ tài chính... Trong đó, ngành kinh doanh số là khoa học liên ngành công nghệ thông tin - kinh doanh và phân tích dữ liệu.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.650
41.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.650
41.950
Vàng SJC 5c
41.650
41.970
Vàng nhẫn 9999
41.630
42.080
Vàng nữ trang 9999
41.150
41.950