10:50 | 07/02/2018

Ngành Ngân hàng Phú Thọ: Bước chuyển từ thực thi chính sách

Cùng với việc kết nối nút giao thông trên con đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai đưa Phú Thọ gần hơn với Hà Nội cũng như các tỉnh Tây Bắc, nhiều dự án kết cấu hạ tầng giao thông trọng điểm khác và hạ tầng các khu công nghiệp được hoàn thành đồng bộ đã giúp tỉnh cải thiện vị trí kinh tế…

NHNN Chi nhánh Phú Thọ: Tăng chất cho hoạt động tín dụng hợp tác

Quản lý một ngành kinh tế quan trọng trên địa bàn, NHNN Chi nhánh Phú Thọ đã chủ động tham mưu, chỉ đạo triển khai các chủ trương, chính sách của Nhà nước, của Ngành và cấp uỷ, chính quyền địa phương đến sâu rộng hệ thống các TCTD trên địa bàn, nối nhịp những dòng chuyển động đầu tư về tỉnh, cũng như khơi dậy tiềm năng của vùng Đất Tổ.

Ngành Ngân hàng Phú Thọ đã chủ động, tích cực triển khai nhiệm vụ ngay từ những ngày đầu năm 2018

Bắt nhịp chính sách cùng cuộc sống

Giám đốc NHNN Chi nhánh Phú Thọ Phạm Trường Giang cho biết, ngay sau khi NHNN Việt Nam ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 10/01/2017 của Thống đốc NHNN “Về tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả năm 2017”, Chi nhánh NHNN đã tổ chức thực hiện tốt việc triển khai và coi đây là sợi chỉ xuyên suốt trong hoạt động quản lý và chỉ đạo hệ thống các TCTD trên địa bàn. Cùng với đó là công tác tham mưu với Cấp uỷ, chính quyền địa phương và NHNN Việt Nam trong việc quản lý, điều hành hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng trên địa bàn đảm bảo an toàn, hiệu quả của hệ thống được đẩy mạnh.

Chung tay cùng tỉnh nhà cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, NHNN Chi nhánh Phú Thọ sát sao chỉ đạo các NH, TCTD thực hiện nghiêm túc cơ chế lãi suất của NHNN Việt Nam, chủ động điều chỉnh giảm lãi suất huy động và cho vay.

Trong năm 2017, lãi suất cho vay giảm khoảng 0,5%/năm so với cuối năm 2016 góp phần ổn định thị trường tiền tệ trên địa bàn, hỗ trợ tích cực doanh nghiệp và người dân trong tháo gỡ khó khăn, nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD. Cùng với việc đẩy mạnh huy động vốn tại chỗ, nhất là nguồn vốn trung dài hạn, nguồn vốn từ dân cư, NHNN Chi nhánh hướng dòng đầu tư của các TCTD vào 5 chương trình, lĩnh vực ưu tiên và kinh tế trọng điểm của tỉnh: về phát triển nông nghiệp nông thôn, phục vụ xuất khẩu, phát triển công nghiệp hỗ trợ và DNNVV, cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Đồng thời, tích cực thực hiện chương trình cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới và chương trình giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh.

Tính chủ động trong việc thực thi chính sách thêm rõ với việc NHNN Chi nhánh chủ động làm việc với Ban quản lý khu công nghiệp, Hiệp hội DNNVV, nắm tình hình thực tế tại các chi nhánh NHTM, QTDND. Từ đó, có các biện pháp để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân trong việc tiếp cận vốn tín dụng và dịch vụ ngân hàng.

Chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở trung tâm tỉnh mà mở rộng tới các huyện, thậm chí tới cấp xã mà Chi nhánh đã giải tỏa những khó khăn, vướng mắc cho khách hàng vay vốn, cũng như có thêm cơ hội tiếp cận đầu tư mới. Trong năm 2017 các NHTM trên địa bàn đã cho vay mới 210 doanh nghiệp với dư nợ trên 3.000 tỷ đồng; gia hạn nợ cho 61 khách hàng với dư nợ 14 tỷ đồng; hạ lãi suất cho 25 khách hàng với dư nợ 212 tỷ đồng.

Từ việc liên tục cập nhật diễn biến của nền kinh tế, Chi nhánh NHNN đã chủ động có những chỉ đạo, điều hành mang tính phản ứng nhanh, giúp doanh nghiệp và người dân tháo gỡ khó khăn, khôi phục SXKD. Ví như, những tháng đầu năm 2017, ngành chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh gặp rất nhiều khó khăn khi giá lợn hơi xuống thấp, NHNN Chi nhánh đã cùng các TCTD bàn thảo, từ đó có những giải pháp hỗ trợ kịp thời từ việc gia hạn nợ, đến giảm lãi vay, cùng “nhường cơm, sẻ áo” với khách hàng.

Đã có 7.560 khách hàng được hỗ trợ, trong đó: cơ cấu lại thời hạn trả nợ 48.839 triệu đồng, miễn giảm lãi vay với dư nợ 400.640 triệu đồng. Hay như, trước tình cảnh một số doanh nghiệp, trang trại, hộ gia đình do ảnh hưởng bão, lũ với 484 lồng cá (thiệt hại 525 tấn cá trị giá 35 tỷ đồng) với 26 khách hàng vay dư nợ là 5.530 triệu đồng, các TCTD cũng đã có những điều chỉnh, hỗ trợ kịp thời để không làm gia tăng gánh nặng cho khách hàng, đồng thời giúp họ tiết giảm chi phí, tìm cơ hội tái đầu tư.

Đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, trong năm Chi nhánh NHNN chỉ đạo các TCTD thực hiện quyết liệt các giải pháp xử lý nợ xấu, phòng ngừa, hạn chế nợ xấu gia tăng, kiểm soát nợ xấu ở mức an toàn; triển khai Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội; Đề án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu của hệ thống QTDND trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017–2020. Đặc biệt với việc phối hợp với Cục Thi hành án Dân sự tỉnh về việc phối hợp trao đổi thông tin và chỉ đạo hoạt động thi hành án dân sự liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng đã góp phần xử lý được 29.368 triệu đồng.

Lan tỏa hoạt động trong đời sống

Năm 2017 cũng ghi bước thay đổi về cơ cấu mạng lưới hoạt động của các ngân hàng, TCTD trên địa bàn cho phù hợp hơn, độ phủ rộng hơn, đảm bảo đáp ứng các dịch vụ ngân hàng đến tận khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Hầu hết các xã đều có điểm giao dịch của hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Ngân hàng Chính sách để phục vụ các hộ SXKD và người dân.

Trong năm 2017 đã thay đổi vị trí 18 trụ sở Phòng giao dịch, QTDND và 9 điểm đặt máy ATM; thành lập 5 Phòng giao dịch của Ngân hàng Bưu điện Liên Việt, khai trương hoạt động QTDND xã Hương Lung (huyện Cẩm Khê). Mạng lưới hệ thống tính đến thời điểm hiện tại gồm 19 chi nhánh NHTM cấp I, thuộc các NHTM lớn; có 39 QTDND cơ sở.

Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng ngày càng mở rộng sự hiện hữu trong đời sống đã góp phần cộng hưởng và gia tăng giá trị cho chính các hoạt động ngân hàng. Đến cuối năm 2017, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đạt 41.119 tỷ đồng, tăng 7.768 tỷ đồng (tăng 23,3%) so với cuối năm 2016.

Tổng dư nợ cho vay trên địa bàn đến cuối năm 2017 là 48.889 tỷ đồng, so với cuối năm 2016 tăng 6.683 tỷ đồng, tăng 15,8%. Đáng nói là doanh số cho vay đạt 95.304 tỷ đồng, tăng 22.304 tỷ đồng (tăng 30,6%) so với năm 2016 cho thấy nền kinh tế đã dần được phục hồi và đang chuyển động theo chiều hướng tích cực, khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế tốt hơn, đi vào chất lượng hơn.

Ngoài việc vay vốn ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động duy trì SXKD, các doanh nghiệp và người dân cũng đã vay vốn trung, dài hạn để đầu tư cơ sở vật chất, mở rộng SXKD, phát triển dịch vụ và góp phần cải thiện nâng cao đời sống với tỷ trọng 47%/tổng dư nợ cho vay.

Mô hình kinh tế tập thể, QTDND đã góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bàn có quỹ hoạt động, với tổng dư nợ cho vay đạt 2.990 tỷ đồng, tăng 16,3% so với cuối năm 2016. Nợ xấu chiếm tỷ lệ 1,13% tổng dư nợ, và trong tầm kiểm soát của QTDND. 

“Những kết quả đó có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của các ngành kinh tế, vào kết quả tăng trưởng của nền kinh tế nói chung, ngành dịch vụ nói riêng; giúp kiềm chế chỉ số giá, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng tích cực; đảm bảo an sinh, phúc lợi xã hội và tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn”, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Hoàng Công Thủy cho biết. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 7,75%. Thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 5.400 tỷ đồng, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 1,3 tỷ USD; huy động vốn đầu tư toàn xã hội đạt trên 23.600 tỷ đồng; thu nhập bình quân đầu người đạt 35,5 triệu đồng.

Bước sang năm 2018 - năm bản lề, có ý nghĩa quan trọng trong phấn đấu hoàn thành các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 đề ra.

Để chung tay cùng tỉnh hoàn thành chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2018 nói chung, lĩnh vực tài chính - ngân hàng nói riêng, Giám đốc NHNN Chi nhánh Phú Thọ Phạm Trường Giang cho biết Chi nhánh sẽ tiếp tục bám sát chỉ đạo của Chính phủ, NHNN Việt Nam, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh để tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng “chủ động, an toàn, linh hoạt, hiệu quả”, đảm bảo tốt việc kiểm soát chỉ số giá, lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ thị trường, duy trì tăng trưởng và bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội. Tăng cường công tác quản lý và điều hành lãi suất, tỷ giá, hoạt động của thị trường ngoại tệ và vàng trên địa bàn, phấn đấu giảm lãi suất cho vay để tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Cùng với việc thực hiện các biện pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phát triển thị trường và đầu tư của doanh nghiệp, Chi nhánh sẽ phối hợp với các cơ quan, ban, ngành trên địa bàn thực hiện tốt công tác truyền thông để doanh nghiệp và người dân hiểu góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với hệ thống ngân hàng.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.300 23.390 26.553 26.870 30.062 30.543 205,03 212,15
BIDV 23.305 23.395 26.570 26.902 30.105 30.581 205,23 208,77
VietinBank 23.299 23.394 26.464 26.842 30.026 30.586 205,35 208,75
Agribank 23.295 23.380 26.635 26.970 30.257 30.695 204,93 208,36
Eximbank 23.290 23.390 26.665 27.021 29.269 30.673 205,80 208,55
ACB 23.310 23.390 26.602 27.098 30.273 30.761 205,32 209,15
Sacombank 23.308 23.400 26.731 27.090 30.364 30.728 205,93 208,98
Techcombank 23.280 23.390 26.418 27.157 29.881 30.871 204,36 209,85
LienVietPostBank 23.290 23.390 26.487 26.949 30.191 30.612 205,93 209,63
DongA Bank 23.310 23.390 26.660 27.060 29.240 30.720 204,20 208,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.650
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.630
Vàng SJC 5c
36.490
36.650
Vàng nhẫn 9999
35.000
35.400
Vàng nữ trang 9999
34.550
35.350