00:16 | 27/07/2013

“Nguy hiểm là dùng hàng Trung Quốc thành quen”

Trao đổi với Thời báo Ngân hàng, ông Vũ Vinh Phú - Chủ tịch Hội siêu thị Hà Nội cho rằng, muốn người Việt thực sự ưu tiên sử dụng hàng Việt thì hàng sản xuất trong nước phải tốt, giá cả phù hợp với túi tiền NTD, tiếp thị phải bài bản, dịch vụ sau bán hàng phải coi NTD đúng là thượng đế. Còn nếu chỉ hô hào thì làm gì có hiệu quả, nếu có cũng chỉ nhất thời...

Ông Vũ Vinh Phú

Theo ông, vì sao hàng Trung Quốc lại có thể tràn ngập từ thành thị tới nông thôn, thâm nhập vào trong các siêu thị và nhan nhản ngoài chợ cóc...?

Câu trả lời rất rõ khi người tiêu dùng (NTD) đi chợ, đi siêu thị, ai cũng thấy mẫu mã hàng hóa sản xuất trong nước đơn điệu, chủng loại nghèo nàn, hình thức có thể nói kém xa hàng nhập khẩu. Ngược lại, hàng Trung Quốc thì sao?

Tôi không có ý khen hàng Trung Quốc, nhưng vẫn phải nói thẳng rằng, hàng của họ mẫu mã phong phú, chủng loại đa dạng, hình thức bắt mắt… Còn giá cả thì rất “mềm”, đáp ứng đủ mọi nhu cầu người tiêu dùng, từ người có thu nhập trung bình khá ở đô thị đến người có thu nhập thấp ở nông thôn.

Nhưng theo tôi, nguy hiểm hơn là NTD sử dụng hàng Trung Quốc nhiều thành quen, mỗi khi cần mua hàng hóa, người có thu nhập thấp mặc nhiên mua hàng nhập khẩu giá rẻ xuất xứ từ Trung Quốc. Thậm chí, người có thu nhập khá cũng mua hàng Trung Quốc mà quên rằng, nhiều loại hàng hóa sản xuất trong nước có chất lượng cao hơn, sử dụng an toàn hơn, giá bán thấp hơn và mẫu mã cũng khá phong phú, chủng loại cũng tương đối đa dạng.

Nếu việc sử dụng hàng Trung Quốc đã trở thành thói quen như vậy thì hàng nội khó có thể chiếm lại được cảm tình của chính đồng bào mình.

Đó cũng chính là vấn đề mà Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đặt ra. Thậm chí, nhiều DN thương mại, siêu thị cũng đã đưa hàng về nông thôn, thưa ông…

Ở khía cạnh nào đó, khẩu hiệu “Người Việt ưu tiên sử dụng hàng Việt” cũng đem lại hiệu quả thiết thực. Có những thời điểm, trong các siêu thị 85% hàng hóa bày bán được sản xuất trong nước. Nhưng cứ hết cao trào, hết “tháng hành động”... thì hàng nội lại trở nên lép vế.

Theo tôi, muốn người Việt thực sự ưu tiên sử dụng hàng Việt thì hàng sản xuất trong nước phải tốt, giá cả phù hợp với túi tiền NTD, tiếp thị phải bài bản, dịch vụ sau bán hàng phải coi NTD đúng là thượng đế. Còn nếu chỉ hô hào thì làm gì có hiệu quả, nếu có cũng chỉ nhất thời...

Còn đưa hàng về nông thôn thì cũng chỉ loanh quanh khu vực ven đô thị, 2 - 3 tháng mới thực hiện một lần… Nhưng giả sử có đưa hàng về nông thôn thường xuyên đi chăng nữa cũng không có hiệu quả. Bởi vì mỗi lần thực hiện “chiến dịch” như vậy, chi phí bỏ ra rất lớn nên giá bán cũng khó lòng cạnh tranh được với hàng nhập lậu giá rẻ.

Tôi cũng xin nói thêm là việc bán hàng bình ổn giá lại chỉ áp dụng đối với hàng bán ở siêu thị, nhiều khi tiểu thương đến siêu thị gom hàng về bán lại cho NTD với giá cao hơn. Cuối cùng, NTD cũng chẳng được hưởng lợi nhiều.

Như ông nói, dường như không chỉ hạn chế về khả năng sản xuất mà hàng Việt còn hạn chế ở khâu phân phối?

Báo chí đã rất nhiều lần phản ánh, người sản xuất treo ao, phơi lưới, bỏ vườn không chăn nuôi, đánh bắt, trồng trọt vì giá bán thấp hơn giá thành. Trong khi đó, người tiêu dùng ở đô thị thì vẫn phải mua lương thực, thực phẩm, rau quả với giá rất cao, có khi cao hơn gấp 2 - 3 lần so với giá thành sản xuất của người nông dân.

Vì sao thế? Vì từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ, hàng hóa phải qua 3 - 4 khâu trung gian. Khi qua mỗi khâu, giá thành lại đội thêm có lúc 15 - 30%. Như vậy, hàng hóa sản xuất trong nước làm sao cạnh tranh được với hàng giá rẻ nhập khẩu, đặc biệt là hàng nhập lậu!

Theo tôi, điểm yếu nhất của hàng sản xuất trong nước chính là khâu phân phối có quá nhiều tầng nấc mà không đem hàng trực tiếp đến người tiêu dùng. Nói một cách khác, sự liên kết giữa các nhà sản xuất, giữa sản xuất với phân phối, giữa các nhà phân phối với nhau, giữa các địa phương với nhau… rất lỏng lẻo, mạnh ai nấy làm.

Ví dụ, 5 - 7 siêu thị liên kết với nhau cùng mua một loại dầu ăn do DN trong nước sản xuất thì chắc chắn giá thành sẽ rẻ hơn từng siêu thị đi mua. Có được hàng giá rẻ, siêu thị sẽ bán giá rẻ. NTD được lợi, siêu thị được lợi, DN cung ứng hàng sẽ ổn định được sản xuất.

Tôi cho rằng, để hàng Việt Nam chiếm được thị trường, ngoài việc khắc phục những hạn chế làm theo kiểu phong trào như trên thì việc liên kết giữa các nhà sản xuất, vận chuyển, phân phối theo hàng ngang và theo cả chiều dọc vô cùng quan trọng. Bởi có như vậy mới giảm thiểu khâu trung gian, giá bán đến tay người tiêu dùng mới hợp lý và đây chính là yếu tố quan trọng nhất.

Còn tất nhiên, để chiếm lĩnh thị trường, nhà sản xuất phải tiết giảm chi phí sản xuất, chi phí hành chính để hạ giá thành sản phẩm đồng thời với việc đưa ra thị trường hàng hóa đa dạng, phong phú, mẫu mã đẹp để phục vụ tất cả đối tượng tiêu dùng, kể cả người có thu nhập cao, lẫn người có thu nhập trung bình, người thu nhập thấp ở cả thành thị lẫn nông thôn.

Gần 10,8 tỷ USD là mức nhập siêu hàng hóa của Việt Nam với Trung Quốc trong 6 tháng đầu năm 2013, theo Tổng cục Hải quan. Còn tại Báo cáo thẩm tra tình hình kinh tế - xã hội năm 2012, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho biết, trong năm 2012, Việt Nam xuất siêu 780 triệu USD, nhưng nhập siêu từ Trung Quốc lên đến 16,7 tỷ USD (không kể hàng tiểu ngạch và hàng nhập lậu).

Mạnh Hiền

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.500
41.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.500
41.850
Vàng SJC 5c
41.500
41.870
Vàng nhẫn 9999
41.480
41.980
Vàng nữ trang 9999
41.050
41.850