11:24 | 01/06/2012

Nhà đầu tư nhỏ cần “thông minh hơn”

Nhìn lại việc công bố thông tin (CBTT) về báo cáo tài chính mà các DN đang thực hiện thì các nội dung trong báo cáo không hẳn đã minh bạch. Trong khi đó, Thông tư 52/2012/TT-BTC chưa có cơ chế kiểm soát thông tin.

Gánh nặng?

TS. Nguyễn Sơn - Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường (UBCKNN) cho biết, Thông tư 52/2012/TT-BTC có hiệu lực từ 1/6/2012 sẽ giúp đảm bảo tính nhất quán trong việc công bố thông tin (CBTT). Đặc biệt là các nội dung về ngày phải thực hiện CBTT của DN, đảm bảo cho TTCK hoạt động  công khai, minh bạch và bảo vệ quyền hợp pháp của NĐT. Các tổ chức, cá nhân cũng được quyền tiếp cận thông tin như nhau, công bằng, cùng một thời điểm sẽ khắc phục tình trạng người liên quan, cổ đông lớn, cổ đông nội bộ sử dụng thông tin không hoặc chưa công bố của DN chuyển cho bên thứ ba để thực hiện các giao dịch mang tính trục lợi.

Song theo một số chuyên gia phân tích, quy định CBTT dường như đang trở thành gánh nặng cả về tài chính và nhân sự cho những công ty đại chúng đã niêm yết hoặc chuẩn bị niêm yết. Nhận định này hoàn toàn có cơ sở bởi lẽ với các quy định rút ngắn thời gian CBTT từ 5 đến 10 ngày so với hiện nay, đòi hỏi các DN niêm yết phải tổ chức tốt hơn, cả về thời gian và nhân sự. Lẽ đương nhiên là chi phí cho việc này cũng sẽ tăng lên. DN sẽ phải tập trung hơn vào một ban chuyên trách cung cấp thông tin ra bên ngoài và họ phải làm việc với tốc độ nhanh nhất. Bởi vì để CBTT phải qua nhiều quy trình từ Chủ tịch HĐQT, đến Tổng giám đốc ký, ban kiểm soát… thông qua.

Liên quan đến quy định thời gian CBTT báo cáo tài chính quý chuyển từ 25 ngày xuống còn 20 ngày. Một chuyên gia phân tích cho rằng, đương nhiên công ty niêm yết phải phối hợp chẽ hơn với bên kiểm toán để thúc giục bên kiểm toán thực hiện nhanh hơn để đảm bảo tiến độ. Tuy nhiên một bất cập hiện nay là số đơn vị kiểm toán lớn, đủ điều kiện được UBCKNN chấp nhận không nhiều, chỉ khoảng 42 đơn vị. Trong khi TTCK hiện có 712 đơn vị niêm yết,  475 công ty chưa niêm yết và 780 công ty đại chúng. Sự chênh lệch lớn cộng với số lượng đơn vị kiểm toán uy tín không nhiều, khiến các đơn vị kiểm toán sẽ “hét” giá cao bởi chính những đơn vị kiểm toán này cũng không đủ nhân sự để làm.

Liệu có bảo vệ được cổ đông?

Rõ ràng, khi thực hiện nghĩa vụ CBTT theo Thông tư 52, chi phí nhân sự và tài chính của các DN đã tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, nhiều ý kiến vẫn còn băn khoăn về tính minh bạch và chất lượng thông tin được công bố khi vẫn chưa thấy quy định cơ quan nào sẽ kiểm soát chất lượng CBTT. Điều này khiến Thông tư 52 khó có thể bảo vệ được cho các cổ đông nhỏ.

Nhìn lại việc công bố CBTT về báo cáo tài chính mà các DN đang thực hiện thì các nội dung trong báo cáo không hẳn đã minh bạch. Vẫn có nhiều khoản DN phải dàn xếp, phải ngồi với kiểm toán để bố trí khoản này, khoản kia cho vào đâu trong báo cáo tài chính cho phù hợp nhất. Đây được xem là cách làm phổ biến trong hợp tác giữa DN và kiểm toán trên thị trường hiện nay. Với ý nghĩa như vậy, ngay cả với những đơn vị kiểm toán mang danh là kiểm toán độc lập đến kiểm toán để giúp NĐT tìm ra được lỗi của DN nhưng thực chất nghề của kiểm toán lại là giúp DN hợp lý hóa những mục tiêu theo đúng cái gọi là CBTT.

Chính vì vậy, quy định CBTT dù là tốt nhưng bản chất bên trong của các báo cáo tài chính có trung thực hay không vẫn chưa có được quy định rõ ràng vẫn chỉ là vẻ bề ngoài có thể che dấu nếu không được kiểm soát. Đương nhiên, người thiệt thòi nhất sẽ là cổ đông nhỏ. Về bản chất của tài chính kế toán ngay cả các con số trên phân tích cơ bản đều có thể chế biến được nên nếu muốn bảo vệ cổ đông, Thông tư 52 nên bảo vệ ở chỗ nâng chuẩn kế toán lên. Điều này sẽ giúp hạn chế được phần nào báo cáo tài chính không trung thực. Càng nâng theo chuẩn quốc tế, sẽ càng hạn chế được việc lừa đảo con số.

Song song với đó, thông tư cũng cần phải nâng tiêu chuẩn của kiểm toán. Các chuyên gia phân tích cho rằng, nếu không nâng các chuẩn này, rõ ràng CBTT sẽ không giải quyết được cốt lõi vấn đề bởi vì tất cả thông tin thật giả đều phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Chủ tịch HĐQT hoặc Tổng giám đốc các DN. Nếu trên TTCK cứ để chủ DN đóng vai trò chủ chòm, họ sẽ có thể điều khiển kết quả kinh doanh của DN theo ý của họ thì cổ đông thông thường bao giờ cũng bị thiệt thòi. NĐT nhỏ chỉ còn cách tự bảo vệ mình bằng cách nâng cao kiến thức, nâng cao bản lĩnh và kinh nghiệm để trở thành NĐT thông minh hơn.

Dương Công Chiến

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.335 26.205 28.880 29.373 202,12 215,27
BIDV 23.140 23.260 25.413 26.164 28.948 29.506 208,34 215,15
VietinBank 23.125 23.255 25.353 26.218 28.841 29.481 211,21 217,21
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.371 25.721 29.002 29.403 212,52 215,46
ACB 23.130 23.250 25.388 25.737 29.078 29.405 212,49 215,42
Sacombank 23.100 23.260 25.378 25.833 29.020 29.423 211,76 216,32
Techcombank 23.131 23.271 25.150 26.145 28.685 29.595 211,04 218,21
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.300 25.775 29.019 29.449 211,98 215,89
DongA Bank 23.160 23.250 25.400 25.720 29.000 29.390 209,10 214,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.420
41.710
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.420
41.690
Vàng SJC 5c
41.420
41.710
Vàng nhẫn 9999
41.400
41.850
Vàng nữ trang 9999
40.890
41.690