11:53 | 22/05/2019

Nhà ở cho công nhân cần nhiều nguồn lực xã hội

Ông Trần Công Khanh, Trưởng phòng Quản lý lao động (Hepza) nêu kiến nghị, để giải quyết nơi ở cho người lao động tập trung, đảm bảo chất lượng cuộc sống, thì quan trọng nhất là nhà nước phải có cơ chế chính sách tạo điều kiện thu hút DN tham gia đầu tư xây dựng như ưu tiên bố trí quỹ đất sạch, quỹ đất phù hợp với xây dựng nhà lưu trú công nhân.

Ông Trần Đức Vinh, Tổng giám đốc Trần Anh Group cho biết, là nhà đầu tư trong lĩnh vực BĐS tại tỉnh Long An, DN nhận thấy nhu cầu về nhà ở cho công nhân tại các KCX, KCN hiện nay là rất lớn. Nếu không xây dựng khu lưu trú cho công nhân thì không thể thu hút người lao động đến làm việc tại các nhà máy, xí nghiệp địa phương. Tuy nhiên, vấn đề hiện nay là có nhiều những quy định, quy chuẩn áp dụng đối với việc xây dựng nhà ở cho công nhân rất khắt khe, trong khi nguồn hỗ trợ hạn hẹp khiến cho các DN BĐS e ngại đầu tư vào phân khúc này.

Ảnh minh họa

Đơn cử như với quy định về diện tích sàn tối thiểu đối với nhà ở cho công nhân là 40m2 thì chi phí mà chủ đầu tư phải bỏ ra xây dựng sẽ rất tốn kém, dẫn đến giá thành sản phẩm đưa ra thị trường phải lên đến 700 triệu đồng/căn. Với giá bán như vậy, công nhân với mức thu nhập trung bình, thấp rất khó tiếp cận để sở hữu căn hộ. Nhưng nếu, giảm diện tích xuống còn 20 - 30 m2 , thì giá thành sẽ trở nên phù hợp hơn đối với đại đa số người làm công ăn lương hiện nay.

Thời gian qua, Trần Anh Group có kế hoạch đầu tư xây dựng khoảng 10.000 căn hộ cho công nhân tại tỉnh Long An, song thực tế hiện nay DN mới chỉ triển khai được 800 căn do vướng mắc một số thủ tục, quy định gây khó khăn khiến cho DN “chùn” bước.

Bàn về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Đực, Phó Giám đốc Công ty địa ốc Đất Lành cho rằng, làm nhà ở cho công nhân, người thu nhập trung bình thấp thì DN sẽ không có lời lãi nhiều do phải đảm bảo giá bán hợp lý, phù hợp với túi tiền của người mua, trong khi vẫn phải tuân thủ mọi quy định, quy chuẩn như xây nhà ở thương mại thông thường từ khâu đất sạch cho đến diện tích, chất lượng, thiết kế... Cái khó nữa là việc xin cấp phép rất mất thời gian. Cùng với đó, nguồn vốn để phát triển dự án cũng là cả một bài toán nan giải với DN. 

“Phát triển xây dựng nhà ở cho công nhân, người thu nhập thấp là chính sách quốc gia, Nhà nước kêu gọi DN tham gia. Vậy cần phải có chính sách hỗ trợ về cơ chế, tạo điều kiện thuận lợi, nguồn tài chính phù hợp cho DN chung tay góp sức. Với nhu cầu hiện nay, các DN BĐS mong muốn có một quỹ cho vay phát triển nhà ở cho công nhân khoảng 10.000 tỷ đồng”, ông Đực nêu ý kiến.

Theo thống kê của Ban Quản lý KCX, KCN TP. Hồ Chí Minh (Hepza), trên địa bàn thành phố hiện có 17 KCX, KCN với 2.500 chuyên gia nước ngoài, 10.000 kỹ sư, 300.000 công nhân, lao động nhập cư chiếm hơn 70%... nhu cầu về nhà ở là rất lớn, tuy nhiên việc đáp ứng hiện vẫn còn nhiều hạn chế. Cụ thể, cho đến nay, TP.HCM chỉ có 12 khu nhà lưu trú cho công nhân, nên để có thể giải quyết được chính sách nhà ở cho công nhân, phải huy động từ nhiều nguồn lực trong xã hội. Trong đó, trách nhiệm đầu tiên thuộc về các nhà đầu tư KCX, KCN; nguồn thứ 2 là từ các DN đầu tư trong KCX, KCN; và nguồn thứ 3 từ các DN xây dựng, BĐS có sự quan tâm đến lĩnh vực này. 

Ông Trần Công Khanh, Trưởng phòng Quản lý lao động (Hepza) nêu kiến nghị, để giải quyết nơi ở cho người lao động tập trung, đảm bảo chất lượng cuộc sống, thì quan trọng nhất là nhà nước phải có cơ chế chính sách tạo điều kiện thu hút DN tham gia đầu tư xây dựng như ưu tiên bố trí quỹ đất sạch, quỹ đất phù hợp với xây dựng nhà lưu trú công nhân. Tiếp tục hỗ trợ vốn vay với thời hạn cho vay dài hạn từ 10 năm trở lên; ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước để thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất…; kêu gọi đầu tư huy động nguồn vốn xã hội hóa. Đặc biệt, để đảm bảo và ngày càng nâng cao đời sống cho công nhân, cần quan tâm đúng mức đến việc đầu tư nhà ở song song với những công trình phúc lợi xã hội như bệnh viện, trường học, nhà trẻ, khu vui chơi, giải trí...

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.335 26.205 28.880 29.373 202,12 215,27
BIDV 23.140 23.260 25.413 26.164 28.948 29.506 208,34 215,15
VietinBank 23.125 23.255 25.353 26.218 28.841 29.481 211,21 217,21
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.371 25.721 29.002 29.403 212,52 215,46
ACB 23.130 23.250 25.388 25.737 29.078 29.405 212,49 215,42
Sacombank 23.100 23.260 25.378 25.833 29.020 29.423 211,76 216,32
Techcombank 23.131 23.271 25.150 26.145 28.685 29.595 211,04 218,21
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.300 25.775 29.019 29.449 211,98 215,89
DongA Bank 23.160 23.250 25.400 25.720 29.000 29.390 209,10 214,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.500
41.790
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.500
41.770
Vàng SJC 5c
41.500
41.790
Vàng nhẫn 9999
41.490
41.940
Vàng nữ trang 9999
40.970
41.770