14:45 | 03/09/2019

Nhìn lại phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp 8 tháng 2019

Bộ phận Phân tích và Tư vấn đầu tư khách hàng cá nhân thuộc Công ty SSI vừa phát hành báo cáo về diễn biến thị trường trái phiếu doanh nghiệp 8 tháng đầu năm 2019 với nhiều điểm đáng chú ý.

Thị trường sôi động

Nghị định 163/2018/NĐ-CP quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 1/2/2019 đã tạo hành lang pháp lý thông thoáng hơn cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Các chính sách từ NHNN như giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, giới hạn cho vay với 1 khách hàng không quá 15% vốn tự có, điều chỉnh hệ số rủi ro với cho vay bất động sản… cũng đã tạo ra sự dịch chuyển của các doanh nghiệp từ kênh huy động tín dụng ngân hàng sang kênh phát hành trái phiếu.

Bên cạnh đó, việc thông tin phát hành trái phiếu minh bạch hơn và sự tham gia tích cực của các trung gian phân phối là các Ngân hàng, CTCK đã khiến trái phiếu doanh nghiệp trở lên hấp dẫn hơn trong mắt nhà đầu tư. Sự gia tăng từ cả phía cung và phía cầu đã khiến thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam trở lên sôi động hơn bao giờ hết.

Theo số liệu từ Bộ Tài chính, năm 2018 có 224.000 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp phát hành, tăng 94,5% so với 2017. Tổng quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp đến 2018 là 474.500 tỷ đồng, tương đương 8,6% GDP.

Sự sôi động của thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong năm 2018 tiếp tục được duy trì trong 8 tháng đầu năm 2019. Căn cứ thông tin phát hành riêng lẻ trên HNX và công bố thông tin của các doanh nghiệp, báo cáo ước tính 8 tháng 2019, tổng lượng chào bán là 129.016 tỷ đồng và lượng phát hành là 117.142 tỷ đồng, tỷ lệ phát hành thành công toàn thị trường là 90,8%, quy mô thị trường tăng mạnh lên mức khoảng 10,2% GDP.

Các NHTM phát hành lớn và huy động thành công nhất

Chủ thể phát hành lớn nhất vẫn là các NHTM với tổng giá trị phát hành là 56.060 tỷ đồng (chiếm 47,9%). Tiếp đó là các doanh nghiệp bất động sản phát hành 36.946 tỷ đồng (chiếm 31,5%); các doanh nghiệp phát triển hạ tầng phát hành 9.207 tỷ đồng (chiếm 7,9%); các định chế tài chính phi ngân hàng phát hành 4.423 tỷ đồng (chiếm 3,8%); còn lại là các doanh nghiệp khác.

Ngân hàng cũng là nhóm có tỷ lệ phát hành thành công cao nhất (99,6%), ngoại trừ Seabank có 2 lô phát hành ngày 8/5 và 19/6/2019 là 1.000 tỷ đồng và 900 tỷ đồng không bán hết (lượng phát hành tương ứng 950 tỷ đồng và 700 tỷ đồng), tất cả 10 NHTM còn lại đều bán hết 100% lượng trái phiếu chào bán. 

Top 5 NHTM phát hành nhiều nhất, chiếm tới 83% tổng giá trị phát hành 8 tháng 2019 của nhóm Ngân hàng là: VPB (13.860 tỷ đồng, trong đó có 300 triệu USD trái phiếu quốc tế); HDB (11.600 tỷ đồng); ACB (7.850 tỷ đồng); VIB (6.450 tỷ đồng) và LPB (6.100 tỷ đồng). 

Bên cạnh Ngân hàng, các doanh nghiệp phát triển hạ tầng cũng là nhóm chào bán khá thành công. Trong đó, riêng CTCP Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật TP HCM (CII) phát hành 3.611 tỷ đồng, chiếm 39% lượng phát hành của cả nhóm này.

Nhóm định chế tài chính bao gồm 100 tỷ đồng của F88 và 599 tỷ đồng của CTCP Đầu tư dịch vụ tài chính Hoàng Huy (TCH), còn lại là các CTCK. Trong 8 tháng 2019, có 12 CTCK phát hành tổng cộng 3.724 tỷ đồng. Trong đó, chỉ riêng 4 công ty VND, SHS, VCI và VDS phát hành tổng cộng 2.499 tỷ đồng (chiếm 67%).

Trái phiếu bất động sản nở rộ

Trong 8 tháng đầu năm 2019, bất động sản là lĩnh vực có các doanh nghiệp tham gia chào bán trái phiếu doanh nghiệp đông đảo nhất với 44/108 doanh nghiệp qua 139 đợt chào bán với 47,8 nghìn tỷ trái phiếu được chào bán nhưng chỉ có 36.146 tỷ trái phiếu được phát hành, tương đương tỷ lệ 77,3%, mức thấp nhất trong các nhóm. 

CTCP Đầu tư và Phát triển Du lịch Phú Quốc là doanh nghiệp có tổng lượng phát hành nhiều nhất (4.610 tỷ đồng) và toàn bộ được bảo đảm bởi cổ phần của Vinhomes và bảo lãnh thanh toán bởi Vinpearl và Vinhomes.

Một số doanh nghiệp có lượng phát hành lớn khác là Tân Liên Phát Sài Gòn (2.228 tỷ đồng), Vinpearl (2.000 tỷ đồng), Tiếp vận và Tân Liên Phát Tân Cảng (1.979 tỷ đồng), Novaland (1.900 tỷ đồng)…

Ngoài ra, khoản phát hành 100 triệu USD (tương đương 2.318 tỷ đồng) trái phiếu 10 năm được bảo lãnh bởi CGIF (thuộc ADB) vào cuối tháng 1/2019 của REE cũng được SSI xếp vào nhóm bất động sản do mục đích huy động vốn là phát triển các dự án bất động sản.

Về diễn biến lãi suất và kỳ hạn

Tính bình quân gia quyền theo giá trị phát hành trong 8 tháng đầu năm 2019, lãi suất trái phiếu trung bình là 8,3%/năm và kỳ hạn trái phiếu bình quân là 3,4 năm. Có tới 62,7% trái phiếu phát hành là lãi suất cố định (tương đương 73 nghìn tỷ đồng), còn lại là lãi suất thả nổi. Tuy nhiên, nếu loại trừ trái phiếu ngân hàng thì cơ cấu này có sự đảo ngược với 66% là thả nổi và 34% là cố định.

Trong đó, trái phiếu ngân hàng là nhóm có mức lãi suất thấp nhất và chủ yếu là lãi suất cố định. Hầu hết trái phiếu ngân hàng có lãi suất cố định và trả lãi hàng năm. Lãi suất và kỳ hạn bình quân của nhóm ngân hàng là 6,75%/năm và 3,3 năm.

Chỉ có 3.900 tỷ đồng trái phiếu nhóm này có lãi suất thả nổi, trong đó gồm: 2.500 tỷ trái phiếu kỳ hạn 3 năm của ABBank có mức lãi suất năm đầu là 6,5%/năm và các năm sau bằng bình quân lãi suất tiết kiệm 12 tháng trả sau của 4 SOBs; 1.400 tỷ trái phiếu lãi suất thả nổi còn lại là trái phiếu kỳ hạn dài 5-10 năm của BID, CTG, Seabank và VIB.

Nếu loại trừ nhóm ngân hàng, mức lãi suất bình quân các nhóm còn lại là 9,72%/năm. Trong đó, cao nhất là lãi suất trái phiếu doanh nghiệp của các doanh nghiệp bất động sản (10,01%/năm), tiếp đến là nhóm phát triển hạ tầng (9,79%/năm), nhóm định chế tài chính (8,64%/năm).

Riêng đối với lãi suất trái phiếu bất động sản, do đây là lĩnh vực kinh doanh yêu cầu vốn lớn, tiềm ẩn nhiều rủi ro và bản thân các NHTM cũng phải áp hệ số rủi ro 50% với cho vay đảm bảo bằng nhà ở, quyền sử dụng đất; 200% với cho vay đầu tư, kinh doanh bất động sản (theo thông tư 36) và hệ số này còn tăng lên cao hơn nữa trong dự thảo thông tư thay thế nên lãi suất trái phiếu bất động sản thuộc nhóm cao nhất cũng là điều dễ hiểu.

Phần lớn các doanh nghiệp bất động sản huy động với lãi suất xung quanh mức bình quân trên, chỉ có 4 doanh nghiệp huy động được trái phiếu có lãi suất từ 8% trở xuống và có 5 doanh nghiệp bất động sản với 8 lô phát hành, tổng giá trị phát hành 2.079 tỷ đồng trái phiếu là có lãi suất từ 12%/năm trở lên (tương đương tỷ trọng 5,7%). Trong đó, cao nhất là 200 tỷ đồng phát hành ngày 8/4/2019 của CTCP Phát triển bất động sản Phát Đạt (PDR) với mức lãi suất 14,45%/năm.

Kỳ hạn bình quân cao nhất thuộc về nhóm phát triển hạ tầng (4,4 năm) với điển hình là 1.150 tỷ đồng trái phiếu 10 năm của CII và 1.100 tỷ đồng trái phiếu 7 năm của Vietraximex. Ngược lại, trái phiếu của các CTCK hầu hết có kỳ hạn ngắn từ 1-2 năm khiến kỳ hạn bình quân của nhóm định chế tài chính là ngắn nhất (1,8 năm).

Hấp dẫn hơn trong mắt NĐT

Trong 8 tháng 2019, nhà đầu tư nước ngoài tham gia khá tích cực vào thị trường trái phiếu Việt Nam khi mua vào khá nhiều cả trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam.

Cụ thể, nhà đầu tư nước ngoài mua ròng hơn 13 nghỉn tỷ đồng trái phiếu chính phủ và mua sơ cấp trái phiếu doanh nghiệp 10.266 tỷ đồng, tương ứng 8,8% tổng lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành. Trong đó, lớn nhất là lô 300 triệu USD (tương đương khoảng 6,96 nghìn tỷ đồng) trái phiếu quốc tế kỳ hạn 3 năm của VPB phát hành thành công vào 17/7/2019 với lãi suất cố định 6,25%/năm và được niêm yết trên sàn SGX-ST (Singapore). 

Trong khi đó, các CTCK, NHTM và nhà đầu tư trong nước khác là đối tượng mua trái phiếu doanh nghiệp nhiều nhất. Theo số liệu trên bảng cân đối kế toán tại ngày 30/6/2019 của 18 NHTM niêm yết, tổng số trái phiếu doanh nghiệp các ngân hàng nắm giữ là gần 230,5 nghìn tỷ đồng, tăng 65 nghìn tỷ đồng so với cuối năm 2018 trong đó một số ngân hàng tăng rất mạnh là STB, CTG, SHB, MBB.

Thực tế, so với cho vay, việc mua trái phiếu doanh nghiệp sẽ giúp các NHTM linh hoạt hơn vì các NHTM có thể bán lại một phần trái phiếu này cho các tổ chức, quỹ đầu tư và khách hàng cá nhân khi cần điều chỉnh các khoản mục tài sản trên bảng cân đối kế toán.

Tuy nhiên, một số ngân hàng có thể sử dụng công cụ trái phiếu doanh nghiệp, thông qua các giao dịch tài chính phức tạp để cơ cấu lại nợ của tổ chức phát hành hoặc các mục đích khác. Để hạn chế các rủi ro tiềm ẩn như vậy, mới đây, NHNN đã có văn bản gửi đến các NHTM yêu cầu tăng cường kiểm soát hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và cho biết sẽ xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. 

Báo cáo này đánh giá, sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp là một tất yếu và cũng phù hợp với định hướng của Nhà nước nhằm phát triển thị trường vốn song song với thị trường tín dụng. Tuy quy mô phát hành trái phiếu doanh nghiệp đã có mức tăng trưởng khá cao, nhìn sâu vào từng đợt phát hành vẫn thấy có một số điểm cần lưu tâm như việc phát hành của các NHTM và việc NHTM là bên mua của nhiều loại trái phiếu doanh nghiệp, trong đó có trái phiếu doanh nghiệp bất động sản.

“Nhìn một cách tổng thể, lãi suất trái phiếu doanh nghiệp vẫn nằm trong mức tương đối an toàn bởi xấp xỉ bằng với lãi suất vay ngân hàng. Nhưng nếu thiếu một cơ quan định mức tín nhiệm đủ uy tín, người mua trái phiếu, đặc biệt là các nhà đầu tư cá nhân sẽ rất khó xác định mức lãi suất hợp lý. Khi chính sách liên quan đến phát hành trái phiếu doanh nghiệp thông thoáng hơn thì các cơ chế bảo vệ nhà đầu tư cũng cần hoàn chỉnh hơn. Đây sẽ là nền tảng để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệplớn mạnh và bền vững”, báo cáo này nhấn mạnh.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.120 23.270 25.403 26.276 28.714 29.204 206,88 211,94
BIDV 23.150 23.270 25.459 26.347 28.795 29.468 209,49 217,39
VietinBank 23.130 23.260 25.412 26.207 28.718 29.358 212,95 217,95
Agribank 23.150 23.255 25.417 25.809 28.743 29.219 212,36 216,23
Eximbank 23.140 23.250 25.352 25.702 28.714 29.111 213,96 216,92
ACB 23.130 23.250 25.266 25.790 28.693 29.215 213,25 217,67
Sacombank 23.103 23.263 25.451 25.910 28.966 29.378 212,58 217,12
Techcombank 23.135 23.275 25.193 26.187 28.546 29.454 211,81 219,00
LienVietPostBank 23.135 23.255 25.361 25.836 28.840 29.273 212,67 216,63
DongA Bank 23.160 23.250 25.370 25.700 28.720 29.110 210,50 216,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.850
42.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.850
42.150
Vàng SJC 5c
41.850
42.170
Vàng nhẫn 9999
41.780
42.280
Vàng nữ trang 9999
41.350
42.150