09:00 | 11/05/2018

NHTW Anh giữ nguyên lãi suất, giảm dự báo tăng trưởng và lạm phát

Hiện thị trường tiền tệ chỉ đặt cược một cơ hội khoảng 50% là NHTW Anh sẽ tăng lãi suất vào tháng 8 tới.

NHTW Anh giữ nguyên lãi suất, song phát tín hiệu có thể tăng nhanh hơn
Thống đốc NHTW Anh thấy “có vấn đề” nếu NHTW phát hành tiền kỹ thuật số
NHTW Anh tăng lãi suất lần đầu tiên sau 1 thập kỷ
Ngân hàng trung ương Anh

Với 7 phiếu ủng hộ và 2 phiếu phản đối, Ủy ban chính sách tiền tệ (MPC) của NHTW Anh hôm thứ Năm (10/5) đã quyết định giữ nguyên lãi suất chủ chốt ở mức 0,5%. Giải thích về quyết định này của MPC tại cuộc họp báo sau đó, Thống đốc NHTW Anh Mark Carney viện dẫn việc tăng trưởng kinh tế của Anh sụt giảm trong quý đầu tiên và lạm phát có thể suy yếu nhanh hơn suy nghĩ trước đây.

Quyết định này của NHTW Anh không nằm ngoài dự đoán của tất cả các chuyên gia kinh tế tham gia cuộc khảo sát của Bloomberg. Tuy nhiên, điều khiến họ quan tâm là việc NHTW Anh đã cắt giảm triển vọng tăng trưởng và lạm phát của đảo quốc sương mù.

Theo đó, dự báo mới nhất của NHTW Anh cho thấy lạm phát sẽ giảm mạnh hơn, giảm xuống mức mục tiêu 2% trong hai năm tới, một phần do sự sụt giảm giá trị của đồng bảng Anh kể từ khi cuộc bỏ phiếu Brexit diễn ra nhanh hơn.

Về tăng trưởng kinh tế, NHTW Anh dự kiến kinh tế Anh chỉ tăng trưởng 1,4% trong năm này, thấp hơn nhiều so với mức 1,8% như dự báo mà cơ quan này đưa ra hồi tháng 2. Tuy nhiên, NHTW Anh cho biết, tăng trưởng quý I có thể sẽ được điều chỉnh lên tới 0,3% so với ước tính ban đầu là 0,1%. Triển vọng tăng trưởng trong năm 2019 và 2020 vẫn được giữ nguyên ở mức 1,7%.

Mặc dù cho rằng, “các động lực trong nền kinh tế sẽ tái thiết lập”, song Thống đốc Mark Carney vẫn phải thừa nhận rằng, trong bối cảnh hiện nay “Ủy ban chính sách tiền tệ đánh giá rằng việc thắt chặt chính sách tiền tệ sẽ được tục với tốc độ khiêm tốn trong giai đoạn phù hợp với dự báo để lạm phát tăng trở lại một cách bền vững hướng tới mục tiêu của nó”.

NHTW Anh cũng tỏ qua quan ngại về tiến trình đàm phán Brexit. Mặc dù vậy vẫn có 2 thành viên của MPC muốn tăng lãi suất trong tháng này, viện dẫn sức mạnh của thị trường lao động, khi tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống thấp nhất kể từ những năm 1970 và tăng trưởng tiền lương đang tăng lên. Tuy nhiên, các đồng nghiệp của họ đã chọn không vội vàng.

“Thị trường đã giải thích quyết định ngày hôm nay và Báo cáo lạm phát là khá ôn hòa và theo quan điểm của chúng tôi, phản ứng này (bán mạnh đồng bảng Anh) có vẻ hơi quá mức”, Dean Turner - nhà kinh tế học của UBS Wealth Management cho biết. “Bảng Anh sẽ phục hồi một số tổn thất của nó trong những tháng tới khi dữ liệu xác nhận rằng sự suy giảm quý đầu tiên là không có gì hơn một sự suy giảm tạm thời”.

Mặc dù vậy, kỳ vọng của các nhà đầu tư về việc sớm tăng lãi suất của NHTW Anh đang sụt giảm mạnh. Hiện thị trường tiền tệ chỉ đặt cược một cơ hội khoảng 50% là lãi suất sẽ được tăng trong tháng 8 và 87% cơ hội vào thời điểm cuối năm, trong khi trước đó thị trường đặt cược một cơ hội tới 100% là lãi suất sẽ được tăng vào cuối năm.

Đồng bảng Anh, vốn đã tăng 0,5% trước khi quyết định của NHTW Anh được công bố, đã sụt giảm mạnh trở lại, đóng cửa phiên giao dịch hôm qua ở mức 1,3519 USD. Tuy nhiên, đồng bảng Anh đã có xu hướng phục hồi nhẹ trở lại trong phiên giao dịch sáng thứu Sáu, hiện đang được giao dịch ở mức 1,3527 USD.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.155 23.245 26.189 26.924 29.492 29.965 20838 21871
BIDV 23.155 23.245 26.171 26.534 29.508 29.968 20926 21289
VietinBank 23.142 23.242 26.110 26.925 29.442 30.002 20905 21555
Agribank 23.150 23.235 26.161 26.536 29.506 29.963 20914 21276
Eximbank 23.140 23.240 26.249 26.601 29.597 29.994 212,09 214,93
ACB 23.160 23.240 26.258 26.596 29.640 29.947 212,25 214,99
Sacombank 23.157 23.259 26.293 26.657 29.630 29.984 212,32 215,42
Techcombank 23.135 23.245 26.005 26.723 29.212 30.042 210,90 216,50
LienVietPostBank 23.140 23.240 26.195 26.658 29.607 29.023 211,65 215,51
DongA Bank 23.160 23.230 26.270 26.570 29.560 29.930 211,00 215,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.670
Vàng SJC 5c
36.490
36.690
Vàng nhẫn 9999
36.370
36.770
Vàng nữ trang 9999
35.920
36.620