14:07 | 24/10/2019

Nông nghiệp khó sản xuất lớn vì vướng chính sách đất đai

Sản xuất nông nghiệp hàng hóa luôn đỏi hỏi phải có quy mô lớn. Nhưng hiện nay, mô hình sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam vẫn còn manh mún, quy mô nhỏ, với thực trạng bình quân mỗi hộ nông dân đang sở hữu 2,5 mảnh đất, mỗi mảnh 1.840 m2. Điều đó đặt ra vấn đề tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp.

Khuyến khích tập trung, tích tụ đất nông nghiệp
Tích tụ ruộng đất nâng cao chuỗi giá trị nông sản

Diễn ra trong cả ngày 24/10/2019, tại Hà Nội, Diễn đàn Nông nghiệp mùa thu 2019 với chủ đề “Chính sách đất đai và sự phát triển nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế” tập trung phân tích thực trạng một số mô hình cánh đồng mẫu lớn đã thành công, cho thấy cánh đồng mẫu lớn là chủ trương đúng nhưng lại không thể nhân rộng.

Từ những mô hình thành công bước đầu

Tập đoàn Lộc Trời đã thành công khi triển khai sản xuất quy mô lớn với mô hình cánh đồng mẫu lớn ở đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng, Tập đoàn này rất vất vả trong việc quản lý, hướng dẫn và giám sát các nông hộ sản xuất đúng quy trình, đúng kỹ thuật để đảm bảo chất lượng sản phẩm.

Theo chính sách hiện hành, doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp không được giao đất nông nghiệp, cũng không được nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp mà chỉ được thuê đất để đầu tư sản xuất. Để có cánh đồng mẫu lớn, Tập đoàn Lộc Trời phải ký hợp đồng với 30.000 hộ để có được 93.000 ha.

“Một doanh nghiệp phải ký 30.000 hợp đồng như thế sẽ rất khó khăn trong quản lý, trong hướng dẫn và giám sát các hộ cấy trồng, chăm sóc đúng quy trình, đúng tiêu chuẩn. Không buộc cả 30.000 hộ cùng làm theo quy trình của doanh nghiệp nên sản phẩm của nhiều hộ không đáp ứng được tiêu chuẩn. Đây chính là nguyên nhân vì sao cánh đồng mẫu lớn không nhân rộng ra được”, GS. Vũ Trọng Khải, nguyên Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn TP. Hồ Chí Minh, phát biểu.

TS. Trần Công Thắng, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, bổ sung: Theo quy định hiện hành, doanh nghiệp nước ngoài không được phép nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp. Quyền tài sản đối với đất nông nghiệp chưa được đảm bảo như các loại đất khác vì chưa có sở hữu.

Hiện tại, chỉ nông dân mới được nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp nhưng lại bị khống chế hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp không được quá 10 lần hạn mức giao. Đã vậy, mức thuế và phí liên quan đến chuyển nhượng đất nông nghiệp bị áp 2% thuế thu nhập cá nhân như với giao dịch chuyển nhượng các loại đất khác...

Theo khảo sát của TS. Bùi Hải Thiêm, Viện nghiên cứu Lập pháp của Quốc hội, chính quy định thời hạn giao đất, cho thuê đất hiện nay khiến nhà đầu tư không yên tâm đầu tư lâu dài, việc giao đất cho cá nhân và hộ gia đình không thu tiền sử dụng đất hiện nay không hiệu quả.

60% ý kiến trả lời khảo sát nêu trên cho rằng việc tổ chức kinh tế không có nhiều quyền liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một sự bất bình đẳng, chưa khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp...

Từ đó, nhóm nghiên của TS. Thiêm đưa ra 7 đề xuất: Nhà nước nên quy định chỉ sử dụng một hình thức là thuê đất; Bãi bỏ quy định về thời hạn giao đất và cho thuê đất nông nghiệp; Xóa bỏ sự phân biệt về quyền cho các chủ thể sử dụng đất; Thay thế quyền chuyển đổi và quyền chuyển nhượng bằng quyền mua bán; Công bố rộng rãi thông tin về từng thửa đất trên internet; Thí diểm bãi bỏ hạn điền hoặc mở rộng hạn điền trước khi chính thức sửa luật đất đai...

Cũng đề xuất bỏ hạn mức nhận quyền sử dụng đất và sử dụng hạn mức nhận chuyển nhượng hiện nay, TS. Trần Công Thắng còn đề xuất phải có quy định và giám sát chặt chẽ diện tích tối thiểu để tránh hộ nông dân tách thửa khiến manh mún lại càng manh mún hơn.

TS. Thắng đề xuất giảm thuế và phí liên quan đến chuyển nhượng đất nông nghiệp để tăng cường chính thức hóa giao dịch đất nông nghiệp. Đồng thời, kích hoạt và sự hoạt động của quỹ phát triển đất, từ đó xây dựng thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp và phát huy quyền và tài sản đối với đất nông nghiệp trong tương lai. 

“Để giải quyết vấn đề không thể bằng giải quyết bằng tư duy đã gây ra vấn đề, mà phải bằng tư duy mới. Muốn tư duy mới phải chuẩn hóa khái niệm, từ đó có khung lý thuyết để xem ta cần sửa đổi chính sách thế nào”, PGS-TS. Vũ Trọng Khải nói, đồng thời khẳng định nếu cố khống chế bằng hạn điền và không bỏ thời hạn giao đất cho thuê đất thì hết 50 năm theo quy định lại thu hồi đất để giao lại, cho thuê lại, như thế sẽ “rối” lần nữa.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.280
41.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.280
41.500
Vàng SJC 5c
41.280
41.520
Vàng nhẫn 9999
41.210
41.660
Vàng nữ trang 9999
40.700
41.500