14:22 | 08/07/2019

Nông sản hội nhập CPTPP: Giai đoạn đầu sẽ khó cạnh tranh

Với dung lượng nhập khẩu 2.500 tỷ USD nhưng Việt Nam mới chiếm khoảng 1,7%, tương đương 42 tỷ USD, thị trường các nước CPTPP đặc biệt tiềm năng cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, trong đó có nông nghiệp. Tuy nhiên, khó khăn và thách thức cũng song hành.

“Thực tế không phải bức tranh hội nhập đang toàn màu hồng”, Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh khẳng định tại hội thảo CPTPP: Cơ hội và thách thức cho nông sản Việt tổ chức mới đây. “Nông nghiệp, nông thôn đang là khu vực dễ bị tổn thương”, ông nói.

Ảnh minh họa

Nhiều rủi ro với nông nghiệp khi vào CPTPP

Trong khi tạo ra sinh kế cho khoảng 70% dân số, nông nghiệp chỉ chiếm 14,6% GDP Việt Nam (năm 2018). “Tổ chức sản xuất nông nghiệp của nước ta năng suất lao động còn thấp”, PGS-TS. Ngô Trí Long, Chuyên gia kinh tế, nói.

Số liệu 6 tháng đầu năm nay, theo chuyên gia này dẫn ra, cho thấy lực lượng lao động trong nông nghiệp hiện chiếm khoảng 35,4% của cả nước, nhưng chỉ đóng góp được 6% vào mức tăng trưởng chung của GDP.

Sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và năng suất thấp đang khiến cho nông sản Việt Nam trở nên khó cạnh tranh trong hội nhập. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, doanh nghiệp chế biến nông sản của Việt Nam có tới gần 80% là chế biến thô, công suất chỉ đạt 10-13% sản lượng nông sản.

“Nông sản của Việt Nam đã tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu nhưng mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp đầu vào là nông sản thô, trong khi giá trị gia tăng đối với hàng nông sản lại chủ yếu do khâu chế biến, bao gói và hoạt động thương mại…”, ông Long phân tích bất cập lớn của ngành này.

Thực tế cũng cho thấy với hoạt động sản xuất nông nghiệp manh mún và nhỏ lẻ thì trình độ khoa học công nghệ của ngành cũng chưa cao và chất lượng sản phẩm có nhiều vấn đề. Thống kê một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam cho thấy có một khoảng chênh lệch giá từ 15-50% do những yếu kém về chất lượng.

Và với chỉ khoảng 5% hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế, những rào cản kỹ thuật đối với nông sản, thực phẩm xuất khẩu sẽ đặt ra thách thức rất lớn cho các nhóm hàng này. Trong đó, với một số nông sản phải đối mặt với cạnh tranh trực tiếp từ các thị trường đã mở thông qua ký kết FTA, trong đó có CPTPP, EVFTA, thì khả năng cạnh tranh sẽ rất khó khăn.

Với CPTPP thậm chí có thể còn chịu sự cạnh tranh gay gắt hơn là EVFTA, do nhiều nước thành viên có cùng nhóm hàng thế mạnh nông nghiệp với Việt Nam, như New Zealand và Úc phát triển mạnh đại gia súc, sữa; hay Chile hiện đang xuất khẩu 40% tổng kim ngạch lĩnh vực nông nghiệp sang các thị trường châu Á, chiếm 15% GDP nước này…

Trong khi đó, nông nghiệp Việt Nam dễ tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu, dịch bệnh, cạnh tranh... Chỉ tính trong 6 tháng đầu năm 2019, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản của ngành nông nghiệp gặp khó khăn do dịch tả lợn châu Phi lây lan trên diện rộng nên chỉ tăng 2,39%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 3,93% của 6 tháng năm 2018, theo số liệu của Tổng cục Thống kê.

Vì vậy, ông Long cho rằng: “Giai đoạn đầu sẽ khó cạnh trạnh với các nước trong CPTPP”.

Nhận thức để thay đổi

Một trong những yêu cầu đầu tiên để nông nghiệp có thể cạnh tranh được khi tham gia CPTPP, theo PGS-TS. Ngô Trí Long: Từng doanh nghiệp cần nắm rõ luật chơi đối với nông sản xuất khẩu.

Bà Phạm Quỳnh Mai, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương) khuyến cáo: Các doanh nghiệp cần chủ đông tìm hiểu thông tin về Hiệp định CPTPP để nắm vững cam kết của Việt Nam và các thị trường đối tác quan tâm, đặc biệt là các thông tin về các ưu đãi thuế quan theo Hiệp định này đối với những mặt hàng ta đang có thế mạnh hoặc có nhiều tiềm năng xuất khẩu trong thời gian tới.

Cũng theo bà Mai, doanh nghiệp cũng cần thay đổi tư duy kinh doanh trong bối cảnh mối, lấy sức ép về cạnh tranh là động lực để đổi mới và phát triển…

“Chất lượng là con đường duy nhất của nông sản xuất khẩu”, ông Long nêu giải pháp cụ thể, để tận dụng ưu đãi của CPTPP xóa bỏ hoàn toàn từ 97-100% số dòng thuế nhập khẩu đối với hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam.

Theo đó, áp dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp là hướng đi đúng đắn nhất cho nền nông nghiệp hiện đại, vừa để đảm bảo chất lượng sản phẩm, đồng thời đạt các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm.

Cùng với quá trình cải tổ sản xuất đó, tái cơ cấu nông nghiệp, tăng đầu tư chế biến cũng là biện pháp quyết định, giúp tăng giá trị xuất khẩu, mở rộng thị trường xuất khẩu, đảm bảo tính bền vững của thị trường xuất khẩu.

“Chế biến là phương châm, mục tiêu và giải pháp đột phá những năm tới của ngành nông nghiệp. Để nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm nông nghiệp, giải pháp quan trọng là tăng cường sử dụng các phế phụ phẩm...”, ông Long nói.

Hỗ trợ cho doanh nghiệp trong quá trình nâng cao năng lực chế biến, theo ông Long, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành nông nghiệp.

Đồng thời, để nông sản Việt tăng sự kiện diện về thương hiệu thì cũng cần thành lập các điểm thông tin thị trường ở các vùng chuyên canh có tỷ suất hàng hoá lớn; duy trì và phát triển các trang điện tử về nông sản và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng nông sản.

Cuối cùng, cần xây dựng những quy chuẩn phù hợp với yêu cầu của từng thị trường xuất khẩu. Về mặt hàng rào kỹ thuật, cần rà soát toàn bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn xem cái gì thiếu thì phải bổ sung; tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo cảnh báo đối với các biện pháp phòng vệ thương mại áp dụng lên hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam...

“Cần rút kinh nghiệm triển khai các cam kết hội nhập một cách toàn diện, kịp thời, để đảm bảo lợi ích lâu dài cho người dân, doanh nghiệp, người tiêu dùng”, ông Trần Tuấn Anh nói.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.150 23.270 25.629 26.478 28.125 28.576 213,44 221,85
BIDV 23.150 23.270 25.641 26.373 28.143 28.621 217,83 223,39
VietinBank 23.128 23.270 25.611 26.406 28.069 28.709 217,40 223,40
Agribank 23.145 23.250 25.618 26.011 28.138 28.607 217,85 221,85
Eximbank 23.140 23.250 25.621 25.975 28.228 28.619 218,02 221,03
ACB 23.130 23.250 25.640 25.993 28.317 28.625 218,26 221,26
Sacombank 23.110 23.270 25.661 26.120 28.274 28.683 218,04 222,61
Techcombank 23.131 23.271 25.409 26.408 27.912 28.913 21,08 224,40
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.568 26.041 28.246 28.670 218,39 222,40
DongA Bank 23.160 23.250 25.640 25.970 28.210 28.590 215,30 221,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
42.450
42.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
42.450
42.850
Vàng SJC 5c
42.450
42.870
Vàng nhẫn 9999
42.350
42.950
Vàng nữ trang 9999
42.150
42.950