09:05 | 18/09/2019

Nuôi lợn an toàn sinh học: Giải pháp tái đàn hiệu quả

Cơ sở cho việc tái đàn lợn là có thể triển khai tốt nếu các địa phương bảo đảm an toàn sinh học, với điều kiện phải giám sát rất chặt chẽ và hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện đúng quy trình.

Bệnh dịch tả lợn châu Phi lần đầu xuất hiện tại Việt Nam vào tháng 2/2019  và lan rộng tại hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước (63/63 tỉnh, thành), nhiều cơ sở chăn nuôi lợn phải đóng cửa, do đó số lượng đàn lợn giảm. Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), Ban Chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch bệnh tả lợn châu Phi đã kịp thời ban hành nhiều nghị quyết, quyết định đề xuất các giải pháp, thông tin chỉ đạo, điều hành.

Tại thời điểm đó, tổng đàn lợn cả nước giảm khoảng 7%. Hiện thịt lợn vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu bữa ăn của người Việt, nếu không có giải pháp kịp thời nguy cơ thiếu thịt là rất lớn, nhất là trong dịp cuối năm 2019 và năm 2020.

Việc tái đàn lợn hoàn toàn khả thi khi áp dụng mô hình nuôi sinh học

Tuy nhiên, ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT cho biết, tín hiệu đáng mừng là trong thời gian 8 tháng dịch tả lợn châu Phi xảy ra, từ thực tiễn đã xuất hiện rất nhiều mô hình chăn nuôi an toàn sinh học thích ứng, thích nghi được với dịch tả lợn châu Phi, như mô hình chăn nuôi lợn của Tập đoàn Quế Lâm, Amavet, Phân viện Chăn nuôi phía Nam… 

Thực tế trên là cơ sở cho việc tái đàn lợn là có thể triển khai tốt nếu các địa phương bảo đảm an toàn sinh học, với điều kiện phải giám sát rất chặt chẽ và hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện đúng quy trình.

Lúc này việc vệ sinh, phun khử trùng tiêu độc là đặc biệt quan trọng, cắt đường lây lan truyền vi rút. Qua đây, các địa phương có thể nghiên cứu, xem xét, cân nhắc việc tái đàn lợn gắn với chăn nuôi an toàn sinh học.

Cùng với đó, Bộ NN&PTNT sẽ nghiên cứu các phương án để thúc đẩy nhiều hơn nữa hình thức liên kết chăn nuôi theo một chuỗi khép kín từ các nguyên liệu đầu vào (thức ăn, con giống, thuốc thú y....) cho đến sản phẩm đầu ra và tiêu thụ sản phẩm (giết mổ, chế biến và tiêu thụ sản phẩm).

Hình thức chăn nuôi lợn theo liên kết chuỗi khép kín này (giữa các doanh nghiệp, công ty sản xuất chăn nuôi vừa và lớn - liên kết dọc) sẽ cho ra những sản phẩm chẳng những có truy xuất nguồn gốc rõ ràng, mà còn đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tối ưu, ông Tiến chia sẻ thêm.

Theo ông Nguyễn Văn Trọng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT), chăn nuôi lợn an toàn sinh học đóng vai trò rất quan trọng, mang tính bền vững, đặc biệt trong bối cảnh bệnh dịch tả lợn Châu Phi còn tiềm ẩn những diễn biến rất phức tạp trong phạm vi cả nước.

Nếu như năm 2016 cả nước có 2.147 trang trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học, chiếm tỷ lệ 18,3%, thì sang năm 2017 số trang trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học của cả nước tăng lên gần 2.500 trang trại  và chiếm tỷ lệ 24,4%.

Về số hộ chăn nuôi lợn an toàn sinh học, năm 2016 cả nước có gần 29 nghìn hộ, chiếm tỷ lệ 10%. Đến nay, tuy số hộ này trên cả nước giảm xuống chỉ còn xấp xỉ 28 nghìn hộ, song tỷ lệ tổng đàn lợn ổn định và có biểu hiện tăng nhẹ. Điều này càng chứng tỏ xu thế số lượng hộ chăn nuôi thu hẹp trong khi quy mô chăn nuôi ngày càng tăng lên. Điều này đồng nghĩa là những cơ sở trang trại chăn nuôi làm tốt công tác an toàn sinh học đến nay cơ bản giữ được an toàn dịch bệnh đối với bệnh dịch tả lợn châu Phi, ông Trọng chia sẻ thêm.

Bộ NN&PTNT cũng xác định, vì chưa có thuốc chữa  đặc trị bệnh này, nên xác định sẽ phải song hành lâu dài với nguy cơ. Tuy nhiên, nếu phát triển tốt chăn nuôi an toàn sinh học và tái cơ cấu hợp lý thì ngành  nông nghiệp vẫn có thể giữ vững mục tiêu tăng trưởng, đảm bảo nguồn cung thịt lợn an toàn cho thị trường.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.353 26.224 29.231 29.730 201,36 214,48
BIDV 23.140 23.260 25.429 26.181 29.307 29.873 207,42 214,24
VietinBank 23.129 23.259 25.347 26.182 29.194 29.834 210,50 216,50
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.384 25.735 29.342 29.748 211,89 214,28
ACB 23.130 23.250 25.383 25.733 29.424 29.755 211,75 216,47
Sacombank 23.103 23.263 25.384 25.843 29.391 29.800 210,96 215,50
Techcombank 23.134 23.274 25.144 26.137 29.023 29.937 210,31 217,47
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.317 25.790 29.364 29.801 211,36 215,31
DongA Bank 23.160 23.250 25.400 25.730 29.340 29.740 208,30 214,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.670
Vàng SJC 5c
41.400
41.690
Vàng nhẫn 9999
41.390
41.840
Vàng nữ trang 9999
40.870
41.670