12:00 | 15/04/2019

PBoC sẽ không thay đổi chính sách vì giá thịt lợn tăng

Hiện các nhà kinh tế và giới thương nhân vẫn dự kiến PBoC sẽ cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc ít nhất 3 lần nữa trong năm nay để bơm tiền vào nền kinh tế đang chậm lại.

Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc (NBS) hôm 11/4 cho biết, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 của nước này tăng 2,3% so với một năm trước đó, cao hơn nhiều mức tăng 1,5% trong tháng 2 và ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong hơn một năm. Sự gia tăng này chủ yếu là do giá rau và thịt lợn tăng, khiến CPI tăng hơn một nửa điểm phần trăm.

Cụ thể, giá thịt lợn - một yếu tố quan trọng trong rổ hàng tính CPI của Trung Quốc - tăng 5,1% trong tháng 3, mức tăng đầu tiên sau 25 tháng giảm. Chỉ riêng giá thịt lợn tăng đã khiến CPI tăng 0,12 điểm phần trăm, NBS cho biết. Nguyên nhân là do khan hiếm nguồn cung. Hơn một triệu con lợn đã bị tiêu hủy trong một đợt bùng phát của dịch tả lợn châu Phi và sản lượng thức ăn cho lợn đã giảm.

Nếu loại trừ giá thực phẩm và năng lượng, CPI lõi giữ nguyên mức tăng 1,8%. Trong khi chỉ số giá sản xuất cũng đã chấm dứt chuỗi trượt giảm, khi tăng 0,4%.

Tuy nhiên, do sự phục hồi lạm phát được thúc đẩy bởi sự gia tăng giá lương thực, có thể là tạm thời, nên Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) khó có thể từ bỏ quan điểm chính sách là giữ cho dòng vốn rẻ chảy vào khu vực tư nhân. Rủi ro giảm phát vẫn đeo bám, cộng thêm triển vọng không mấy chắc chắn của cuộc chiến thương mại với Mỹ và sự phục hồi bền vững của nền kinh tế cũng đòi hỏi PBoC phải rất thận trọng.

“Chính sách tiền tệ sẽ không được điều chỉnh và lạm phát tổng thể cũng không phải là vấn đề lớn trong năm nay”, bởi vì lạm phát cơ bản vẫn ổn định và giá tại nhà máy sẽ ở mức thấp trong tương lai, Ding Shuang - Trưởng bộ phận kinh tế Trung Quốc và Bắc Á tại Standard Chartered Bank Ltd. ở Hồng Kông cho biết.

Cho rằng PBoC có khả năng đang trong “trạng thái quan sát” tại thời điểm hiện tại, song theo Ding Shuang, cơ quan này vẫn có lý do để cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc một lần nữa. “Ngay cả khi có sự thay đổi chính sách, có lẽ nó sẽ không đến từ chính sách tiền tệ vì nó chưa bao giờ là quá lỏng lẻo”, ông nói và thêm rằng: Tốc độ chi tiêu tài chính có thể chậm lại để tiết kiệm một số dư địa, nếu nền kinh tế quay đầu phục hồi.

David Qu và Qian Wan - các nhà kinh tế của Bloomberg Economics ở Hồng Kông cũng cho rằng, trong bối cảnh nền kinh tế đang chậm lại và hệ thống ngân hàng cần thanh khoản, PBoC cần duy trì sự hỗ trợ - và môi trường lạm phát hiện tại vẫn cho phép họ có thể làm như vậy.

Hiện các nhà kinh tế đang mong chờ dữ liệu sản lượng của quý đầu năm 2019 sẽ được công bố trong tuần này vì có nhiều bằng chứng cho thấy những gì tồi tệ nhất của sự chậm lại theo chu kỳ đã qua khi nhiều biện pháp kích thích đã bắt đầu phát huy hiệu quả. Những dấu hiệu cho thấy nền kinh tế Trung Quốc đang ổn định trở lại cũng đã làm dấy lên cuộc tranh luận về việc liệu PBoC có nên ngừng bơm thanh khoản vào thị trường tài chính khi mà đã có những cảnh báo về rủi ro bong bóng tài sản.

Tuy nhiên, hiện các nhà kinh tế và giới thương nhân vẫn dự kiến PBoC sẽ cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc ít nhất 3 lần nữa trong năm nay để bơm tiền vào nền kinh tế đang chậm lại. Theo Lu Ting, nhà kinh tế trưởng về Trung Quốc tại Nomura Holdings Inc., có thể cần nhiều hơn là việc giá thực phẩm tăng cao hơn để “lay chuyển” ngân hàng trung ương.

“Sự tăng tốc của CPI chủ yếu đến từ giá thịt lợn chứ không phải là sự tăng giá chung”, ông nói. “Trừ khi áp lực lạm phát lan sang các khu vực khác, ngân hàng trung ương nhiều khả năng sẽ bỏ qua sự tăng theo chu kỳ của giá thịt lợn và tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thông qua sự thiên vị nới lỏng chính sách tiền tệ trong suốt phần còn lại của năm nay”.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.340 25.954 26.814 27.989 28.437 212,68 221,06
BIDV 23.220 23.340 25.920 26.666 27.952 28.431 216,57 222,10
VietinBank 23.203 23.333 25.895 26.690 27.890 28.530 216,31 223,31
Agribank 23.215 23.320 25.926 26.322 27.971 28.438 216,98 220,95
Eximbank 23.210 23.320 25.936 26.295 28.055 28.443 217,30 222,30
ACB 23.190 23.310 25.901 26.258 28.136 28.452 217,28 220,27
Sacombank 23.183 23.343 25.947 26.406 28.089 28.498 216,47 221,03
Techcombank 23.195 23.335 25.700 26.561 27.733 28.593 216,30 223,68
LienVietPostBank 23.205 23.325 25.886 26.368 28.087 28.521 217,36 221,90
DongA Bank 23.230 23.320 25.980 26.220 28.070 29.350 214,60 220,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.250
42.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.250
41.600
Vàng SJC 5c
41.250
41.620
Vàng nhẫn 9999
41.250
41.750
Vàng nữ trang 9999
40.800
41.600