13:00 | 29/11/2019

Phân bổ hợp lý nguồn cung tín dụng

Trong năm 2020 có thể các ngân hàng như OCB, MSB, SeABank, ABBank, Saigonbank, Nam A Bank, VietABank... sẽ thông qua kế hoạch niêm yết trên sàn chứng khoán, sức nóng cạnh tranh của thị trường cổ phiếu ngân hàng sẽ tăng cao.

Cắt giảm lãi suất: Giải pháp win - win trong tín dụng
Quan hệ tín dụng ngân hàng – doanh nghiệp: Bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi

Thông tư 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chính thức có hiệu lực thi hành từ đầu năm 2020. Kể từ thời điểm này tỷ lệ dư nợ cho vay tối đa trên tổng tiền gửi (LDR) được quy định chung cho mọi loại hình ngân hàng là 85%. So với các quy định hiện hành, LDR của các NHTM Nhà nước sẽ giảm 5%, trong khi đối với các NHTMCP lại tăng thêm 5%.

Theo bà Thái Thị Việt Trinh – Chuyên viên vĩ mô của Công ty chứng khoán KB Việt Nam (KBSV), việc nới tỷ lệ LDR đối với khối ngân hàng cổ phần là phù hợp nhằm cải thiện sức khỏe của hệ thống ngân hàng. Mặc dù việc điều chỉnh trái chiều đối với tỷ lệ LDR ở hai nhóm ngân hàng sẽ không khiến tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống có nhiều thay đổi, do phần dư nợ tiềm năng bị hạn chế của nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối sẽ tương đương với phần dư nợ tiềm năng có thể tăng thêm của nhóm ngân hàng cổ phần.

Tuy nhiên, hiện nay đã có 13 ngân hàng đang áp dụng Basel 2, vì thế nhóm ngân hàng cổ phần có thể xem là được hưởng lợi từ chính sách, và có khả năng mở rộng tăng trưởng tín dụng.

Đối với nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối, như BIDV và VietinBank sẽ bị tác động ít nhiều từ việc thay đổi tỷ lệ LDR. Vì tính đến giữa năm 2019, tỷ lệ này ở hai ngân hàng đã ở mức lần lượt 84% và 85,5%, gần chạm và vượt so với quy định mới. Trong năm 2020, vì chưa đạt chuẩn Basel 2 nên dư địa để BIDV và VietinBank mở rộng tín dụng sẽ hạn hẹp.

Theo số liệu thống kê, hiện tỷ lệ LDR trung bình của khối ngân hàng cổ phần chỉ khoảng 84,61%. Như vậy những ngân hàng đang áp dụng Basel 2 nhiều khả năng sẽ mở rộng room tín dụng trong năm sau trong khi không tạo thêm áp lực huy động vốn.

Theo Công ty chứng khoán VNDirect, hiện nay các ngân hàng NCB, MSB, Sacombank, SCB, ACB, ABBank… có đang có tỷ lệ LDR thấp dưới 90% sẽ có ít áp lực hơn trong việc huy động vốn trên thị trường 1. Điều đó phần nào sẽ hỗ trợ các nhà băng cải thiện tỷ lệ lãi cận biên NIM và cơ cấu các khoản vay với lãi suất hợp lý. Ngoài ra, với tỷ lệ LDR không quá cao ở nhiều ngân hàng sẽ khiến rủi ro thanh khoản của hệ thống được kiểm soát. Trong năm 2020 sẽ có thêm các ngân hàng áp dụng Basel 2 nên nguồn cung tín dụng ra thị trường cũng sẽ có chất lượng tốt hơn và an toàn của hệ thống cũng sẽ được củng cố.

Sau khi có quyết định điều chỉnh tỷ lệ LDR, các công ty chứng khoán đưa ra nhận định rằng tăng trưởng thu nhập lãi thuần của các ngân hàng sẽ có sự phân hóa nhẹ trong thời gian tới do tỷ lệ LDR mỗi ngân hàng mỗi khác. Bà Tăng Thị Uyên - Công ty chứng khoán FPT cho rằng, những ngân hàng đang mở rộng bán lẻ như Vietcombank, MB, VIB, TPBank, ACB… sẽ có thu nhập lãi thuần tăng trưởng tích cực, các ngân hàng chịu sự ảnh hưởng lớn từ kết quả cho vay tài chính tiêu dùng như HDBank và VPBank thu nhập lãi thuần có thể đi ngang hoặc giảm nhẹ.

Cùng với diễn biến thị trường, trong các tháng cuối năm 2019 và đầu năm 2020, các mã cổ phiếu của những ngân hàng có lợi thế về chi phí huy động vốn rẻ như Vietcombank, Techcombank, MB… sẽ tiếp tục được khuyến nghị đầu tư. Các ngân hàng có tiềm năng tăng trưởng cao như ACB, BIDV, VIB… cũng sẽ được khuyến nghị mua và nắm giữ cổ phiếu do chất lượng tài sản lành mạnh và tiềm năng tăng trưởng thu nhập dịch vụ đang khá lớn.

Trong khi đó, ngay trong tháng còn lại năm 2019, Công ty chứng khoán BSC nhận định nhóm cổ phiếu ngân hàng vẫn sẽ là nhóm cổ phiếu dẫn dắt thị trường chứng khoán. Việc đa số  các mã cổ phiếu được định giá hấp dẫn trong thời điểm hiện tại, cộng với xu hướng nợ xấu của nhóm ngân hàng niêm yết giảm dần, kết hợp với những điều chỉnh trong chính sách quản trị vốn sẽ khiến lực đẩy giá cổ phiếu ngân hàng được duy trì tốt.

Ngoài ra, trong năm 2020 có thể các ngân hàng như OCB, MSB, SeABank, ABBank, Saigonbank, Nam A Bank, VietABank... sẽ thông qua kế hoạch niêm yết trên sàn chứng khoán, sức nóng cạnh tranh của thị trường cổ phiếu ngân hàng sẽ tăng cao.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.370
41.610
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.370
41.590
Vàng SJC 5c
41.370
41.610
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.760
Vàng nữ trang 9999
40.790
41.590