15:12 | 24/11/2017

Phát huy hiệu quả tín dụng chính sách

Tín dụng chính sách xã hội đã đạt hiệu quả tích cực, phù hợp chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giảm nghèo bền vững, đảm bảo an sinh xã hội.

Hiệu quả tín dụng chính sách, nhìn từ Đà Nẵng
4,5 triệu hộ vượt ngưỡng nghèo nhờ tín dụng chính sách
Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tín dụng chính sách
Ông Nguyễn Quốc Hùng.

Vốn tín dụng chính sách đóng góp quan trọng trong công tác giảm nghèo khi giải quyết việc làm cho nhiều người lao động, tăng thu nhập… Để hiểu rõ hơn định hướng sử dụng nguồn vốn chính sách trong thời gian tới ra sao, phóng viên Thời báo Ngân hàng đã có cuộc trao đổi nhanh với Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế TS. Nguyễn Quốc Hùng.

Ông có thể cho biết kết quả tín dụng chính sách triển khai trong thời gian qua?

Thời gian qua, nguồn vốn tín dụng chính sách đã được đầu tư đến đúng các đối tượng thụ hưởng trên toàn bộ xã, phường, thị trấn trong cả nước. Tín dụng chính sách đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác đến nay đã thực sự đi vào cuộc sống, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Đến ngày 31/10/2017, tổng dư nợ các chương trình đạt 169.456 tỷ đồng với trên 6,7 triệu khách hàng còn dư nợ. Tín dụng chính sách đã giúp trên 31,8 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn; trên 4,5 triệu số hộ vươn lên thoát nghèo và cũng có hơn 3,3 triệu lượt lao động được tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm, trên 112 nghìn lao động được đi xuất khẩu lao động. Còn số học sinh sinh viên (HSSV) có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn đi học cũng lên tới 3,5 triệu lượt…

Từ kết quả đạt được, có thể khẳng định tín dụng chính sách xã hội đã đạt hiệu quả tích cực, phù hợp chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giảm nghèo bền vững, đảm bảo an sinh xã hội.

Nhiều HSSV mới ra trường, gặp khó khăn trong tìm việc làm nên mong muốn kéo dài thời gian trả nợ vay vốn NHCSXH. Quan điểm của ông về vấn đề này thế nào?

Để tạo điều kiện cho gia đình HSSV giảm bớt khó khăn trong việc trả nợ, tại Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg đã cho phép người vay phải trả nợ và lãi tiền vay lần đầu tiên khi HSSV có việc làm, có thu nhập nhưng không quá 12 tháng kể từ ngày HSSV kết thúc khóa học. Như vậy, HSSV được ân hạn 1 năm kể từ ngày kết thúc khóa học mới bắt đầu phải trả nợ gốc và lãi tiền vay. Khi đến kỳ hạn trả nợ cuối cùng, nếu HSSV gặp khó khăn khách quan chưa trả được nợ thì được xem xét cho gia hạn nợ, thời gian gia hạn nợ tối đa bằng 1/2 thời hạn trả nợ. Như vậy, một HSSV học đại học 4 năm khi vay vốn NHCSXH thời hạn trả nợ nếu tính cả thời hạn được cho gia hạn tối đa là 7 năm. Với thời gian cho vay như vậy theo tôi là phù hợp.

Hiện đang có đề xuất NHCSXH giảm lãi suất cho vay tạo điều kiện cho hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số vay vốn sản xuất kinh doanh. Đề xuất trên có khả thi không, thưa ông?

Lãi suất cho vay của các chương trình tín dụng chính sách của NHCSXH do Thủ tướng Chính phủ quy định trong từng thời kỳ. Từ năm 2013 đến nay, Thủ tướng đã 3 lần quyết định giảm lãi suất cho vay một số chương trình tín dụng tại NHCSXH. Lần giảm gần đây nhất là tại Quyết định số 750/QĐ-TTg quy định lãi suất cho vay hộ nghèo, giải quyết việc làm, HSSV có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài từ 7,2%/năm xuống còn 6,6%/năm; hộ cận nghèo từ 8,64%/năm xuống còn 7,92%/năm.

Riêng đối với đồng bào dân tộc thiểu số, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký ban hành Quyết định số 2085 về việc phê duyệt chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 - 2020. Theo đó, hộ gia đình vay vốn với mục đích tạo quỹ đất sản xuất kinh doanh sẽ được vay vốn với mức vay không vượt quá mức vay tối đa áp dụng đối với hộ nghèo trong từng thời kỳ. Hiện mức cho vay tối đa là 50 triệu đồng/hộ, lãi suất cho vay chỉ bằng 50% lãi suất cho vay ở hộ nghèo tức là chỉ còn 3,3%/năm. Hiện tại, NHCSXH đang tích cực phối hợp với Uỷ ban Dân tộc để triển khai chương trình này.

Trên thực tế, ngân hàng cũng muốn nhiều người dân được thụ hưởng các chính sách tín dụng ưu đãi. Nhưng nguồn lực để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách còn hạn chế so với nhu cầu thực tế của người nghèo và đối tượng chính sách. Ngân sách nhà nước cấp bổ sung vốn các chương trình tín dụng chính sách chưa kịp thời. Bên cạnh đó, một số địa phương dành nguồn lực từ ngân sách để cho vay người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn còn hạn chế. Chất lượng tín dụng chính sách chưa đồng đều tại một số vùng. Chưa kể tại một số nơi, công tác phối hợp giữa các sở, ban, ngành, địa phương, DN… với hoạt động tín dụng chính sách chưa được gắn kết dẫn đến một bộ phận người nghèo sử dụng vốn vay không hiệu quả, chưa thoát nghèo bền vững…

Để tạo điều kiện thêm nhiều người dân được thụ hưởng các chính sách tín dụng, theo tôi cần phải huy động nguồn lực và tổ chức triển khai hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách đã ban hành, rà soát chỉnh sửa bổ sung chính sách, chế độ cho phù hợp với thực tiễn. Nâng cao vai trò, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của cấp uỷ, chính quyền địa phương các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện tín dụng chính sách xã hội, cũng như tăng cường bổ sung nguồn vốn địa phương để uỷ thác cho vay đối với người nghèo và các đối tượng khác trên địa bàn là những giải pháp nên được triển khai mạnh mẽ trong thời gian tới.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,20
4,20
4,70
5,20
5,40
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,30
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,00
6,10
6,70
7,00
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
-
0,29
0,29
0,29
5,42
5,42
5,42
6,90
7,10
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.675 22.745 27.708 28.045 31.280 31.782 199,21 206,25
BIDV 22.675 22.745 27.697 28.020 31.316 30.779 203,29 206,33
VietinBank 22.665 22.745 27.632 28.038 31.208 31.768 202,93 206,41
Agribank 22.670 22.745 27.590 27.930 30.242 31.687 202,30 205,53
Eximbank 22.650 22.740 27.525 27.884 31.212 31.619 203,36 206,02
ACB 22.670 22.740 27.466 27.971 31.227 31.722 202,88 206,61
Sacombank 22.669 22.761 27.600 27.960 31.318 31.682 203,47 206,55
Techcombank 22.665 22.755 27.201 28.125 30.813 31.822 201,79 207,66
LienVietPostBank 22.650 22.765 27.531 27.993 31.352 31.770 202,52 206,14
DongA Bank 22.680 22.750 27.090 27.400 30.480 30.830 199,80 202,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.680
36.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.680
36.850
Vàng SJC 5c
36.680
36.870
Vàng nhẫn 9999
36.520
36.920
Vàng nữ trang 9999
36.220
36.920