13:05 | 21/10/2019

Phó Thống đốc Đào Minh Tú tham dự Hội nghị Thường niên 2019 của IMF/WB

Trong thời gian từ ngày 16-19/10/2019, Đoàn Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) do Phó Thống đốc Thường trực Đào Minh Tú làm Trưởng đoàn đã tham dự Hội nghị Thường niên năm 2019 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)/ Ngân hàng Thế giới (WB) tổ chức tại Washington D.C, Hoa Kỳ.


Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú gặp và làm việc với tân Tổng Giám đốc IMF Kristilina Georgieva

Hội nghị năm nay diễn ra trong bối cảnh hoạt động kinh tế toàn cầu đang tăng trưởng chậm lại trên diện rộng, ở cả các quốc gia phát triển và đang phát triển. Trong báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới (WEO) mới phát hành, IMF dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2019 sẽ ở mức thấp nhất trong vòng 1 thập kỷ, đồng thời hạ mức dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2019 và 2020 xuống lần lượt 3% và 3,4%. Rủi ro xuất phát từ căng thẳng thương mại gia tăng, tác động sâu sắc đến từng nền kinh tế. Chỉ số triển vọng thương mại thế giới (WTO) giảm xuống mức 96,3, thấp nhất kể từ năm 2010. Tăng trưởng khiêm tốn, triển vọng giá hàng hóa thế giới giảm ở nhiều quốc gia cùng với niềm tin thị trường suy giảm đã cho thấy triển vọng không sáng sủa của kinh tế thế giới trong năm nay và năm tới.

Trong bối cảnh đó, Hội nghị nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chung tay hành động và tăng cường phối hợp trong việc tìm kiếm một giải pháp lâu dài cho thương mại và thực hiện các ưu tiên chính sách nhằm đảm bảo tăng trưởng mạnh mẽ và gia tăng khả năng chống đỡ trước các cú sốc, bao gồm:

Thứ nhất: Thực thi chính sách tiền tệ khéo léo và tăng cường ổn định tài chính nhằm hạn chế tác động tiêu cực và không lường trước từ việc duy trì lãi suất thấp trong thời gian dài: 

Thứ hai: Tập trung ngân sách vào các lĩnh vực giúp thúc đẩy cầu trong nước và tiềm năng tăng trưởng, trong khi đảm bảo duy trì nguồn đầu tư cho giáo dục, y tế và việc làm;

Thứ ba: Thực hiện cải cách cơ cấu giúp tăng năng suất và tạo lợi ích kinh tế;

Thứ tư: Thúc đẩy hợp tác quốc tế nhằm tăng cường khả năng thích ứng với những thay đổi trong công nghệ cũng như giải quyết các thách thức đến từ biến đổi khí hậu.


Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú phát biểu tại Hội nghị bàn tròn giữa Tổng Giám đốc IMF và các nước ASEAN

Trong khuôn khổ Hội nghị, Phó Thống đốc Đào Minh Tú đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị bàn tròn giữa Tổng Giám đốc IMF và các nước ASEAN. Đây là Hội nghị đầu tiên giữa tân Tổng Giám đốc Kristilina Georgieva và lãnh đạo các Ngân hàng Trung ương ASEAN.

Chia sẻ với 4 vấn đề ưu tiên mà bà Tổng Giám đốc IMF đã đưa ra trong nhiệm kỳ của mình về củng cố mạng lưới an toàn tài chính toàn cầu, tăng cường vai trò, trách nhiệm của Quỹ đối với những nước dễ bị tổn thương, nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong một môi trường toàn cầu nhiều biến động, và tiếp tục phát triển vai trò, hoạt động của Quỹ để ứng phó với các thách thức hiện tại và tương lai, Phó Thống đốc Đào Minh Tú cho biết, Việt Nam hoàn toàn ủng hộ cách tiếp cận của IMF và WB theo hướng ngày càng linh hoạt trong việc hỗ trợ các nền kinh tế, tính đến đặc thù của từng nền kinh tế trong quá trình hoạch định chính sách, xây dựng các chương trình hành động.

Bên cạnh đó, Phó Thống đốc cũng đề nghị IMF tiếp tục đồng hành và ủng hộ Chính phủ Việt Nam và các quốc gia khác trong khu vực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi sang nền kinh tế số.


Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú gặp và làm việc với ông Axel van Trotsenburg - tân Giám đốc điều hành WB Axel van Trotsenburg

Bên lề Hội nghị, Phó Thống đốc Đào Minh Tú đã có các buổi gặp gỡ với ông Axel van Trotsenburg – tân Giám đốc điều hành Ngân hàng Thế giới (thay bà Kristilina Georgieva); ông Mitsuhiro Furusawa – Phó Tổng Giám đốc IMF và lãnh đạo các đơn vị, vụ, cục chức năng của IMF và WB. Tại các buổi gặp và tiếp xúc, Phó Thống đốc bày tỏ đánh giá cao của Chính phủ Việt Nam nói chung và NHNN nói riêng đối với vai trò của IMF và WB trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, hỗ trợ xây dựng Khung đối tác chiến lược quốc gia (CPF), cũng như cung cấp các tư vấn, khuyến nghị chính sách, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực.

Phó Thống đốc bày tỏ mong muốn IMF và WB sẽ tiếp tục đồng hành, ủng hộ và cung cấp các nguồn tài trợ quý báu cho Việt Nam trong việc xây dựng và triển khai Chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho giai đoạn tới, qua đó giúp Việt Nam thực hiện thành công các mục tiêu phát triển, giữ vững những thành quả đã đạt được và tiếp tục vươn lên, phát triển nhanh, bền vững và toàn diện.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.280
41.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.280
41.500
Vàng SJC 5c
41.280
41.520
Vàng nhẫn 9999
41.210
41.660
Vàng nữ trang 9999
40.700
41.500