09:25 | 01/11/2019

PMI tháng 10 xuống mức thấp nhất 47 tháng, chỉ đạt 50 điểm

“Giai đoạn trì trệ của lĩnh vực sản xuất Việt Nam tiếp tục kéo sang tháng 10 khi các công ty có vẻ thận trọng về sản lượng, việc làm và hoạt động mua hàng trong bối cảnh các dấu hiệu cho thấy số lượng đơn đặt hàng mới tăng yếu hơn và tình trạng cầu trên thế giới giảm”, Andrew Harker, Phó giám đốc IHS Markit - công ty thu thập kết quả khảo sát Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) của Nikkei cho biết.

PMI tháng 9 giảm mạnh tháng thứ hai liên tiếp, chỉ còn 50,5 điểm
PMI tháng 8/2019 xuống mức thấp nhất 6 tháng

Kết quả khảo sát vừa được Nikkei công bố sáng nay (1/11) cho thấy sản lượng giảm tháng thứ hai liên tiếp; số lượng đơn đặt hàng mới tăng với tốc độ thấp của 47 tháng; giá cả đầu ra tăng lần đầu tiên trong 11 tháng… Theo đó, PMI tháng 10/2019 chỉ đạt 50 điểm (không cải thiện so với tháng trước). Đây cũng là mức điểm thấp nhất 47 tháng, tính từ tháng 12/2015.

Về nguyên nhân dẫn đến việc kết thúc thời kỳ tăng kéo dài 46 tháng của PMI ngành sản xuất Việt Nam, kết quả khảo sát cho thấy sự yếu kém trong tháng 10 chủ yếu tập trung ở các công ty sản xuất hàng hoá trung gian.

Trong khi số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục tăng, tốc độ tăng chỉ là nhỏ sau khi chậm lại tháng thứ ba liên tiếp thành mức yếu nhất trong thời kỳ tăng gần đây bắt đầu vào tháng 12/2015. Một số thành viên nhóm khảo sát cho biết khách hàng đã muốn giảm quy mô đơn hàng của họ.

Tình trạng tương tự diễn ra với số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới khi tốc độ tăng chậm lại thành mức độ nhỏ.

Những dấu hiệu của nhu cầu yếu đã khiến các nhà sản xuất giảm sản lượng tháng thứ hai liên tiếp trong tháng 10. Tuy nhiên, tốc độ giảm chỉ là nhẹ và hầu như ngang bằng với tháng 9.

Các công ty đã giảm số lượng việc làm tháng thứ hai liên tiếp. Mặc dù chỉ ở mức khiêm tốn, tốc độ giảm việc làm là cao nhất kể từ tháng 3/2015. Công suất hoạt động giảm đã khiến lượng công việc tồn đọng tăng lần thứ tư trong năm tháng qua.

Hoạt động mua hàng không thay đổi trong tháng 10, từ đó kết thúc thời kỳ tăng kéo dài 46 tháng. Một số thành viên nhóm khảo sát tăng hoạt động mua hàng phù hợp với mức tăng của số lượng đơn đặt hàng mới, nhưng những thành viên khác lại giảm mua hàng hóa đầu vào vì yêu cầu về sản lượng giảm.

Đã có một số báo cáo về những vấn đề với nguồn cung nguyên vật liệu trong tháng 10 dẫn đến giá cả đầu vào tăng, và thời gian giao hàng của nhà cung cấp bị kéo dài.

Tốc độ tăng chi phí đầu vào tăng nhẹ thành mức cao của năm tháng, nhưng vẫn ở dưới mức trung bình của lịch sử chỉ số. Để đáp lại mức tăng cao hơn của giá cả đầu vào, các công ty đã tăng giá đầu ra lần đầu tiên trong 11 tháng. Tuy nhiên, tốc độ tăng giá đầu ra chỉ là nhỏ vì nhu cầu khách hàng yếu đã hạn chế năng lực định giá.

Sản lượng giảm đã ảnh hưởng lên lượng hàng tồn kho trong tháng 10. Nhu cầu hàng hóa đầu vào giảm trong hoạt động sản xuất đã dẫn đến tăng tồn kho hàng mua. Trong khi đó, sản lượng giảm dẫn đến tồn kho thành phẩm giảm, sau khi đã tăng trong tháng 9. Hơn nữa, tốc độ giảm là nhanh nhất kể từ tháng 3/2016.

Mức độ lạc quan trong kinh doanh đã tăng trở lại từ mức thấp của 13 tháng được ghi nhận trong tháng 9 và đã quay trở lại mức được ghi nhận trong tháng 8. Các công ty tự tin rằng sản lượng sẽ tăng trong năm tới, và tình trạng lạc quan tích cực thường được cho là do kỳ vọng thị trường tăng.

“Cần lưu ý là mối quan hệ lịch sử giữa PMI của Việt Nam và dữ liệu chính thức cho thấy ngay cả khi kết quả chỉ số ở mức quanh 50 điểm vẫn có thể chuyển thành mức tăng trưởng mạnh theo các số liệu chính thức. Do đó, những gì chúng ta có vẻ đang chứng kiến lúc này chỉ là sự suy giảm tăng trưởng chứ không phải bất cứ điều gì đáng quan ngại khác”, Andrew Harker, Phó giám đốc IHS Markit, nhấn mạnh.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.220
41.490
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.220
41.470
Vàng SJC 5c
41.220
41.490
Vàng nhẫn 9999
41.180
41.630
Vàng nữ trang 9999
40.670
41.470