10:47 | 14/09/2017

Quan chức NHTW Úc cho biết tăng trưởng quá chậm để tăng lãi suất

Thành viên hội đồng chính sách của Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) Ian Harper cho biết, tăng trưởng kinh tế không đủ mạnh để biện minh cho việc tăng lãi suất và các nhà hoạch định chính sách đang lo ngại về việc đồng đôla Úc mạnh lên.

Đôla Úc tăng 0,1% sau khi bình luận của Harper được công bố

Mặc dù mức tăng trưởng việc làm toàn thời gian là rất lớn và tỷ lệ thất nghiệp đang giảm xuống, nhưng tình trạng bán thất nghiệp vẫn không được cải thiện nhiều và tốc độ tăng lương cũng như thu nhập hộ gia đình vẫn tăng trưởng chậm chạp, vì đó là dấu hiệu của tình trạng dư thừa công suất, Harper cho biết trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại hôm thứ Tư.

“Nền kinh tế Úc vẫn đang hoạt động dưới tiềm năng của nó”, Harper, người bắt đầu nhiệm kỳ 5 năm của mình tại Hội đồng chính sách của RBA hồi tháng 7 năm ngoái, nói. “Chừng nào điều đó còn diễn ra, tại sao mọi người lại đề nghị thắt chặt chính sách tiền tệ khi nền kinh tế đang hoạt động dưới tiềm năng?”.

Harper là một trong 6 giám đốc độc lập trong số 9 thành viên Hội đồng chính sách, trong đó có Thống đốc Philip Lowe, Phó Thống đốc Guy Debelle và Thư ký Kho bạc John Fraser. Chỉ ít ngày sau khi Harper tham gia hội đồng quản trị, RBA đã cắt giảm lãi suất xuống mức thấp kỷ lục 1,5%, lần nới lỏng cuối cùng của RBA cho đến nay; và chỉ một vài tuần sau, Lowe đã thay thế Glenn Stevens trên cương vị Thống đốc RBA.

RBA đã giữ nguyên lãi suất cơ bản trong 13 tháng và thị trường định giá ít có cơ hội lãi suất sẽ thay đổi trong năm tới. Trong khi nền kinh tế đang chuyển dịch sang tăng trưởng phụ thuộc vào dịch vụ thay vì dựa vào khai thác mỏ, thị trường lao động đang mạnh lên và các ý định đầu tư đang được cải thiện, thì việc đồng đôla Úc mạnh lên lại là một nỗi lo mới.

Theo đó, trong khi kinh tế Úc tăng trưởng 0,8% trong quý 2, cao hơn mức tăng 0,3% quay quý đầu năm, thì một vấn đề lại nổi lên là đồng đôla Úc đã tăng từ 69 UScent vào đầu năm 2016 lên trên 80 UScent.

Harper thừa nhận đôla Úc mạnh hơn có thể gây bất lợi cho tăng trưởng. Nhưng ông nói rằng có ít quan chức RBA có thể kiểm soát đà tăng đang được thúc đẩy bởi sự yếu kém trong đồng Đô la Mỹ. Không có gì chắc chắn khi nói về mức độ của đôla Úc, ông nói.

“Nếu bạn đang đề xuất rằng nên có một số can thiệp ở đây, bạn sẽ làm gì, hãy thử đi và ảnh hưởng gì đến đôla Mỹ? Hãy để tôi nghỉ ngơi”, ông nói.

Song song với đó, các hộ gia đình vẫn đang phải vật lộn với nợ cao kỷ lục và thu nhập trì trệ và nêu tăng lãi suất sẽ có nguy cơ ảnh hưởng tới chi tiêu hộ gia đình trong tương lai. “Tiêu dùng chiếm tới 2/3 tổng sản phẩm quốc nội”, Harper nói và theo ông tiêu dùng chậm lại chắc chắn sẽ kéo tăng trưởng GDP đi chệch mục tiêu mong muốn.

Tuy nhiên lãi suất thấp đã góp phần đẩy tăng giá nhà ở Sydney và Melbourne, khiến các nhà quản lý phải áp dụng biện pháp kiềm chế cho vay để tăng cường ổn định tài chính. Dữ liệu tháng trước cho thấy giá nhà quốc gia chỉ tăng 0,1% và không thay đổi ở Sydney. Các khoản cho vay chỉ có lãi suất, đặc biệt đối với các nhà đầu tư, đã giảm đáng kể từ khi áp đặt các biện pháp hạn chế, và việc chuyển đổi sang cho vay đối với chủ sở hữu đang được tiến hành, đó là những gì mà các nhà quản lý mong muốn.

“Bạn có hai cánh tay của chính sách làm việc cùng nhau như bạn hy vọng”, Harper, hiện cũng là cố vấn cao cấp của Deloitte Access Economics Ltd., nói. “Lãi suất rõ ràng là một công cụ cùn, và nó làm phẳng toàn bộ những thứ mà bạn không muốn làm phẳng. Cách tiếp cận tinh vi hơn là đưa ra một quy định thận trọng theo những cách chủ yếu liên quan đến quản lý rủi ro”.

“Các dữ liệu cho thấy tại thời điểm này rằng mọi thứ đang diễn ra đúng như chúng tôi đã hy vọng”, ông nói.

Đô la Úc tăng 0,1% lúc 2h34 tại Sydney sau khi chỉ biến động nhẹ ngay trước khi nhận xét của Harper được công bố.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,30
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,90
4,90
4,90
6,00
6,10
6,70
7,00
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
-
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.670 22.740 27.704 28.035 31.071 31.570 205,89 209,83
BIDV 22.670 22.740 27.709 27.830 31.091 31.555 206,67 209,76
VietinBank 22.658 22.738 27.649 28.055 31.034 31.594 206,45 209,93
Agribank 22.655 22.730 27.685 28.013 31.098 31.528 20658 20981
Eximbank 22.650 22.740 27.683 28.044 31.176 31.583 207,20 20990
ACB 22.665 22.735 27.701 28.049 31.276 31.589 207,31 209,91
Sacombank 22.660 22.755 27.737 28.100 31.260 31.619 207,25 210,36
Techcombank 22.660 22.750 27.372 28.251 30.828 31.719 205,80 211,31
LienVietPostBank 22.620 22.745 27.633 28.096 31.221 31.636 206,75 210,40
DongA Bank 22.670 22.740 27.710 28.020 31.210 31.560 207,10 209,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.850
37.090
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.850
37.070
Vàng SJC 5c
36.850
36.090
Vàng nhẫn 9999
36.660
37.060
Vàng nữ trang 9999
36.310
37.010