11:00 | 03/10/2019

Quản trị rủi ro margin: Từ nói đến làm

Việc hàng chục công ty chứng khoán (CTCK) bị “kẹt” margin cổ phiếu (CP) FTM (Fortex) một lần nữa đặt ra câu hỏi về khả năng quản trị rủi ro.

Từ chuyện “nghiệp quật”

Những ngày qua, dân chứng khoán truyền tai nhau về danh sách các CTCK “dính” vào FTM. Ở đây không bàn sâu vào CTCK cụ thể nào nhưng có một điều chắc chắn rằng, có không ít công ty trước đây đã tuyên bố mình có hệ thống quản trị rủi ro chặt chẽ liên quan đến margin. Câu hỏi đặt ra là quản trị chặt chẽ, thậm chí có đơn vị còn quảng cáo mình có “robot” để quản lý nhưng sao vẫn “dính chưởng”? Từ nói đến làm rõ ràng là có khoảng cách, thậm chí là rất xa và nguyên nhân cũng rất đơn giản, đó là do con người. Hệ thống quản trị rủi ro dù có chặt chẽ đến đâu thì cũng do con người vận hành, và nếu không có sự nhất quán trong hoạt động thì nó cũng trở nên vô dụng, đó là điều chắc chắn.

Tại những thời điểm khác nhau, chất lượng của mỗi CP sẽ khác nhau, vì vậy CTCK phải đầu tư không ít nguồn lực để đánh giá

Có người thậm chí còn tếu táo rằng CTCK bị…“nghiệp quật” ở vụ FTM vì đã lỡ “tạo nghiệp” trong những lần giải chấp khác. Thí dụ: CTCK khi cấp margin thường có những quy định về ngưỡng giải chấp (trigger) phụ thuộc vào mức độ giảm của CP hoặc của tổng tài sản (chẳng hạn 25%), lúc này CTCK sẽ yêu cầu khách hàng đóng thêm tiền để cân đối tỷ lệ vốn tự có/vốn vay. Ngặt nỗi, trong một số thời điểm thị trường bị bán tháo, có khi giá trị tài sản của khách hàng chưa chạm trigger nhưng CTCK đã cảnh báo, và có khi NĐT chưa kịp bổ sung tiền thì CTCK đã lập tức giải chấp. Lúc này, khi NĐT phản ứng mạnh thì có CTCK đổ thừa hệ thống được vận hành bởi “robot” nên “lỡ” bán hoặc vì thị trường rủi ro nên bán. Phản ứng của NĐT dù có gay gắt thì cũng… đành chịu bởi CP thì đã lỡ bán, còn CTCK chắc cũng tự hào rằng hệ thống của mình an toàn.

Đến những rủi ro tiềm ẩn

Hiện nay, quy trình thẩm định cấp margin của CTCK ngoài việc tuân thủ theo danh sách CP được cấp margin từ cơ quan quản lý, thì sẽ còn do quan điểm từ phía CTCK. Chẳng hạn, đại diện truyền thông của HSC mới đây cho biết, CTCK này chỉ cấp margin cho CP thuộc nhóm VN30 và một số CP được đánh giá là an toàn, phù hợp và tổng chỉ khoảng hơn 100 mã chứng khoán. Nghĩa là con số mà HSC hay một số CTCK khác cấp margin có thể ít hơn so với danh sách những CP đủ điều kiện để cấp. Điều này được xem là tích cực vì CTCK chủ động nâng cao chuẩn mực quản trị rủi ro để đảm bảo an toàn hệ thống.

Nhưng ở đây vẫn xuất hiện 2 loại rủi ro chủ quan và khách quan. Về khách quan thì khá đơn giản, nếu đó là việc các doanh nghiệp, hoặc đội lái cố tình “bẫy” CTCK nhưng nguyên nhân này cũng cần phải xem xét thêm. Phải nói rằng, những vụ việc như FTM đã từng có tiền lệ, CTCK cũng phải có kinh nghiệm hoặc bài học nào đó, nếu cố chấp thì không thể nói là khách quan được. Về rủi ro chủ quan, rõ ràng, việc xét duyệt chất lượng CP là không đơn giản vì phải phụ thuộc vào những yếu tố: tính liên tục, chỉ tiêu kinh doanh và chiến lược của CTCK.

Tại những thời điểm khác nhau, chất lượng của mỗi CP sẽ khác nhau, vì vậy đòi hỏi CTCK phải đầu tư không ít nguồn lực từ nhân sự, đến công nghệ, quy trình để đánh giá. Thực tế cho đến thời điểm này, các CTCK vẫn chỉ thường “nói” về việc quản trị rủi ro “chặt” nhưng chặt như thế nào, quy trình ra sao thì không phải NĐT nào cũng có thể thấy tận mắt.

Về chỉ tiêu kinh doanh, việc CTCK phải đối mặt với việc cấp margin cho CP để tạo ra nguồn thu, đi kèm theo đó là rủi ro nợ xấu có thể xuất hiện là tương đối phổ biến, lúc này CTCK sẽ phải chọn giữa nguồn thu ngắn hạn và an toàn về mặt dài hạn. Và trong những lựa chọn này, sẽ có CTCK phó mặc cho may mắn hơn là nhất quán với tiêu chí an toàn do mình đề ra.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.335 26.205 28.880 29.373 202,12 215,27
BIDV 23.140 23.260 25.413 26.164 28.948 29.506 208,34 215,15
VietinBank 23.125 23.255 25.353 26.218 28.841 29.481 211,21 217,21
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.371 25.721 29.002 29.403 212,52 215,46
ACB 23.130 23.250 25.388 25.737 29.078 29.405 212,49 215,42
Sacombank 23.100 23.260 25.378 25.833 29.020 29.423 211,76 216,32
Techcombank 23.131 23.271 25.150 26.145 28.685 29.595 211,04 218,21
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.300 25.775 29.019 29.449 211,98 215,89
DongA Bank 23.160 23.250 25.400 25.720 29.000 29.390 209,10 214,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.420
41.710
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.420
41.690
Vàng SJC 5c
41.420
41.710
Vàng nhẫn 9999
41.400
41.850
Vàng nữ trang 9999
40.890
41.690