09:26 | 14/05/2012

"Có thể giảm lãi suất nhanh hơn"

Đó là khẳng định của Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình khi trao đổi với báo giới. Thống đốc cũng cho biết, để hỗ trợ doanh nghiệp (DN), NHNN đã thực hiện nhiều giải pháp để kéo giảm mặt bằng lãi suất, cũng như cải thiện khả năng tiếp cận vốn cho DN. Đặc biệt, NHNN khống chế lãi suất cho vay tối đa đối với 4 nhóm lĩnh vực ưu tiên.

Theo sát diễn biến lạm phát

Thống đốc NHNNVN Nguyễn Văn Bình cho biết, chính sách tiền tệ luôn được điều hành linh hoạt theo sát mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý. Việc tín dụng 4 tháng đầu  năm giảm 1,71% cũng là điều dễ hiểu trong bối cảnh kiềm chế lạm phát. Bởi những năm trước tín dụng luôn tăng trưởng ở mức rất cao, bình quân 5 năm qua ở mức 34% và bình quân 10 năm trở lại đây cũng lên tới 29%. Trong khi, để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, NHNN đặt mục tiêu kiểm soát  tăng trưởng tín dụng năm 2012 ở mức 15-17%. Tuy nhiên, NHNN cũng theo sát diễn biến kinh tế vĩ mô, liên tục tháo  gỡ giúp DN tiếp cận vốn với lãi suất hợp lý để duy trì, phát triển sản xuất kinh doanh.

Trên tinh thần đó, thời gian qua NHNN đã giảm dần mặt bằng lãi suất theo tín hiệu lạm phát. Theo dự báo của NHNN, lạm phát năm nay có thể được kiểm soát ở mức dưới 10%. Nếu lấy lạm phát ở mức 8-8,5% là mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ nói chung và lãi suất nói riêng thì cuối năm nay, lãi suất huy động sẽ ở mức 9-10%/năm.

Đầu năm 2012, NHNN đã đưa ra thông điệp, phấn đấu giảm lãi suất 1% mỗi quý nếu môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi. Thế nhưng, theo Thống đốc, với diễn biến hiện nay của kinh tế vĩ mô, đặc biệt là lạm phát, chúng ta có điều kiện để có thể giảm lãi suất nhanh hơn nữa. Mặc dù vậy, không nên giảm lãi suất xuống thấp hơn mức 9-10% bởi hai lý do. Thứ nhất, với mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức 8-8,5% trong năm nay, lãi suất huy động ở mức 9-10% là hợp lý. Thứ hai, để đảm bảo vị thế của VND, qua đó đảm bảo sự ổn định đối với thị trường ngoại hối. Với lãi suất huy động 9-10%, gửi tiết kiệm vẫn hấp dẫn hơn nhiều so với các kênh đầu tư khác như vàng, ngoại tệ, bất động sản...

Dồn vốn cho sản xuất, xuất khẩu

Đặc biệt, NHNN đã khống chế lãi  suất cho vay tối đa đối với 4 nhóm lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp, nông thôn; xuất khẩu; công nghiệp hỗ trợ; DNNVV) bằng lãi suất huy động kỳ hạn trên 1 tháng tối đa cộng 3%/năm. Có nghĩa, với lãi suất huy động tối đa kỳ hạn 1 tháng hiện nay là 12%/năm, lãi suất  cho vay tối đa đối với 4 lĩnh vực này chỉ là 15%/năm.

Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình: Quý I/2012 mức tăng trưởng GDP 4% là mơ ước của nhiều nền kinh tế trên thế giới, tuy nhiên với chúng ta có thể hơi  thấp. Chính phủ đã kịp thời có những giải pháp góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP hợp lý ở mức khoảng 6%. Trước hiện tượng đó, chúng ta phải hết sức bình tĩnh, đánh giá để thấy đâu là kết quả đạt được, những khó khăn nào cần vượt qua và xác định mục tiêu xuyên suốt trong quản trị điều hành nền kinh tế.

 

Thống đốc lý giải, trong bối cảnh  tăng trưởng tín dụng bị khống chế để kiềm chế lạm phát, để đảm bảo  tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý cần hướng dòng vốn đến những lĩnh vực có hiệu quả cao. Kết quả năm 2011 đã minh chứng cho sự đúng đắn của định hướng này khi  tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng chỉ ở mức 13%, song tăng trưởng kinh tế vẫn đạt 5,89%. Theo đó, việc tín dụng xuất khẩu tăng tới 54% là một nhân tố quan trọng giúp xuất khẩu tăng tới 34%. Tương tự, tăng trưởng tín dụng đối với nông nghiệp, nông thôn đạt trên 30% góp phần thúc đẩy khu vực này đạt được những kết quả ấn tượng. Với DNNVV, công nghiệp hỗ trợ - đây là động lực phát  triển kinh tế và cũng là khu vực sử dụng  lao động lớn nhất nên trong bối cảnh khó khăn, rất cần phải hỗ trợ.

Tuy nhiên, sẽ có những DN vô cùng dễ dàng, song cũng có những DN rất khó khăn trong việc tiếp cận  vốn. Bởi theo quy định của NHNN,  mức lãi suất đó được áp dụng đối với những đối tượng có đủ điều kiện vay vốn theo quy định và được TCTD đánh giá là có tình hình tài chính lành mạnh. Thống đốc khẳng định, bản thân các TCTD có thể cho vay thậm chí với mức lãi suất 13%/năm nếu họ chắc chắn thu được khoản nợ đó còn hơn là họ mua trái phiếu Chính phủ, tín phiếu NHNN chỉ với lãi suất xung quanh 10%/năm. Thời gian qua, các TCTD đã công bố nhiều gói tín dụng với lãi suất khá thấp để hỗ trợ cho DN. Nhưng đến nay, các TCTD vẫn chưa giải  ngân hết những gói tín dụng đó, một phần cũng do khả năng hấp thụ vốn của DN hiện đang rất yếu.

Mục tiêu của NHNN sẽ cố gắng  mức tối đa để giảm khó khăn cho các DN, nhưng không được đi sai mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Do vậy trong giai đoạn hiện nay cũng chính là giai đoạn thử thách với DN. DN nào có đủ sức sống vươn lên thì DN đó có điều kiện tiếp tục phát triển và trước mắt ngân hàng sẽ tái cơ cấu lại nợ tiếp tục cho vay mới. Với những DN quá yếu thì cũng phải chấp nhận sự thanh lọc, để đảm bảo chương trình tái cơ cấu nền kinh tế được hiệu quả.

Người đứng đầu ngành Ngân hàng cũng khẳng định, hiện nay biện pháp lãi suất chỉ là một trong  tổng thể các biện pháp. Đơn cử, bên cạnh việc giảm dần mặt bằng lãi suất, thời gian qua, NHNN cũng đã có nhiều giải pháp tạo điều kiện cho các DN tiếp cận vốn như yêu cầu các TCTD cơ cấu lại thời hạn trả nợ; tiếp tục cho vay mới đối với những khoản vay có hiệu quả… ". Hy vọng, với các giải pháp về chính sách tiền tệ kết hợp với chính sách tài khóa sẽ tháo gỡ đáng kể những khó khăn của DN hiện nay", Thống đốc bày tỏ.

NHNN cho biết, theo phản ánh của NHTM, từ khi quy định trần lãi suất cho vay có hiệu lực (ngày 8/5/2012), nhiều NHTM đã và đang tiến hành ký kết hợp đồng tín dụng với khách hàng với mức lãi suất 15%/năm. Do đó, khả năng các DN tiếp cận được với nguồn vốn lãi suất thấp này chắc chắn sẽ tăng lên.

Quang Cảnh

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.650
41.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.650
41.950
Vàng SJC 5c
41.650
41.970
Vàng nhẫn 9999
41.630
42.080
Vàng nữ trang 9999
41.150
41.950