10:30 | 16/08/2019

Quý II: Kinh tế Đức rơi vào suy giảm

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu bất định và tác động của cuộc chiến  tranh thương mại (CTTM) gây thiệt hại cho các nhà sản xuất, kinh tế Đức đã rơi vào suy giảm trong quý II vừa qua, với GDP suy giảm 0,1% so với quý I (quý I tăng 0,4%).

Carsten Brzeski, chuyên gia kinh tế trưởng tại Đức của Ngân hàng ING nhận định, số liệu GDP quý II đánh dấu sự kết thúc của “một thập kỷ vàng” của nền kinh tế Đức. Nền kinh tế lớn thứ tư thế giới này đã và đang chịu ảnh hưởng bởi những gì mà các nhà phân tích mô tả là một "cơn bão hoàn hảo" của các yếu tố tiêu cực.

Kinh tế Đức phụ thuộc rất nhiều vào các nhà xuất khẩu mà hiện một lượng lớn hàng hóa được bán cho các đối tác Trung Quốc và Hoa Kỳ, vốn đang bị cuốn vào cuộc CTTM. Doanh số bán ô tô trên toàn cầu yếu cũng giáng đòn mạnh vào các nhà sản xuất ô tô của Đức, trong khi lo ngại về một Brexit ra đi không thỏa thuận vẫn hiện hữu.

Ảnh minh họa

Là nền kinh tế lớn nhất châu Âu, Đức đã đóng vai trò nòng cốt trong hỗ trợ tăng trưởng của khu vực này sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Nhưng sản lượng công nghiệp tháng 6 của Đức đã giảm hơn 5% so với cùng kỳ năm trước. Và chỉ số ZEW - Chỉ số niềm tin kinh tế Đức của các nhà đầu tư và chuyên gia - trong tháng 8 đã giảm mạnh, chạm mức thấp nhất kể từ tháng 12/2011. Chuyên gia Brzeski cho rằng, sự bất định đang là yếu tố tiêu cực hàng đầu với kinh tế Đức hiện nay. "Chính sự bất định gia tăng, chứ không chỉ vì ảnh hưởng trực tiếp từ các xung đột thương mại, hiện đang làm niềm tin suy giảm và kéo theo đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế", chuyên gia này nhận định.

Một vấn đề quan trọng khác là sự sụt giảm nhu cầu ô tô toàn cầu - đặc biệt là ở Trung Quốc, nơi doanh số bán xe mới đã giảm 13 tháng liên tiếp. Đây đang là một vấn đề lớn đối với các nhà sản xuất ô tô Đức như BMW, Daimler hay Volkswagen. Hơn nữa, nó lại xảy đến vào đúng thời điểm mà các nhà sản xuất ô tô của Đức đang phải nỗ lực đầu tư lớn để chế tạo ra những chiếc xe sạch hơn.

Tuy nhiên, Oliver Rakau, kinh tế gia trưởng tại Đức của Oxford Economics kỳ vọng Đức sẽ quay trở lại mức tăng trưởng "khiêm tốn" trong quý hiện tại nhờ được hỗ trợ bởi nhu cầu trong nước đang khá tốt. Nhìn sang năm tới, nếu xuất khẩu và tăng trưởng của ngành công nghiệp tiếp tục khó khăn, rất có thể chính phủ Đức sẽ phải sử dụng các biện pháp kích thích kinh tế nhiều hơn. Khả năng chính phủ phải can thiệp để kích thích nền kinh tế càng lớn hơn nếu cuộc CTTM Mỹ - Trung Quốc kéo dài. Nhưng với một quốc gia nổi tiếng cảnh giác về việc vay nợ như Đức thì viễn cảnh này chưa chắc đã xảy ra.

Việc kinh tế Đức rơi vào suy giảm trong quý II cũng thúc đẩy khả năng NHTW châu Âu (ECB) sẽ phải có hành động chính sách trong cuộc họp vào tháng 9. Các nhà kinh tế dự đoán, ECB sẽ chuyển sang cắt giảm lãi suất, vốn đã ở mức rất thấp trong lịch sử. ECB cũng báo hiệu có thể sẽ khởi động lại chương trình mua trái phiếu được thiết kế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.472 26.346 29.403 29.904 205,46 219,78
BIDV 23.145 23.265 25.550 26.305 29.497 30.058 210,52 214,35
VietinBank 23.132 23.262 25.475 26.310 29.373 30.013 210,35 216,35
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.497 25.849 29.521 29.930 211,71 214,65
ACB 23.130 23.255 25.502 25.841 29.590 29.909 211,60 214,42
Sacombank 23.108 23.268 25.517 25.974 29.571 29.974 210,87 215,41
Techcombank 23.140 23.280 25.263 26.257 29.193 30.110 210,19 217,35
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.427 25.886 29.542 29.967 211,19 215,03
DongA Bank 23.160 23.250 25.520 25.840 29.530 29.920 208,30 214,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.470
41.760
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.470
41.740
Vàng SJC 5c
41.470
41.760
Vàng nhẫn 9999
41.460
41.910
Vàng nữ trang 9999
40.940
41.740