07:00 | 15/04/2019

Rủi ro đối với ổn định tài chính toàn cầu gia tăng

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vừa công bố Báo cáo bán niên về ổn định tài chính toàn cầu cho biết, do các điều kiện tài chính vẫn còn lỏng lẻo, bất ổn tài chính vẫn tiếp tục tích tụ. 

Theo IMF, bất ổn tài chính đang gia tăng trong các lĩnh vực tài chính có chủ quyền, doanh nghiệp và phi ngân hàng ở một số quốc gia quan trọng về mặt hệ thống. Khi chu kỳ tín dụng kết thúc, các bất ổn tài chính trong khu vực doanh nghiệp xuất hiện ở 70% các quốc gia quan trọng về hệ thống (tính theo GDP) - có thể khuếch đại đà suy thoái kinh tế toàn cầu.

Nợ của DN ở các nền kinh tế phát triển:

Báo cáo cho biết, mặc dù năng lực trả nợ đã được cải thiện ở hầu hết các nền kinh tế tiên tiến. Tuy nhiên, tổng nợ và rủi ro tài chính đã tăng lên và uy tín của một số người vay đã xấu đi. Do đó, khi kinh tế giảm tốc đáng kể hoặc việc thắt chặt đột ngột các điều kiện tài chính có thể làm suy giảm khả năng trả nợ của các công ty mắc nợ. Tuy nhiên, nếu các điều kiện tiền tệ và tài chính vẫn lỏng lẻo, nợ lại có thể tăng cao hơn, qua đó càng làm tăng nguy cơ suy thoái sâu hơn trong tương lai.

Rủi ro tài chính chủ quyền tại Eurozone:

Những thách thức tài khóa ở Ý đã khơi dậy nỗi lo về những rủi ro của khu vực tài chính có chủ quyền. Mặc dù tỷ lệ vốn ngân hàng hiện đang cao hơn trong khu vực đồng euro. Nhưng những thiệt hại tiềm tàng đối với các khoản nợ dưới chuẩn và sự sụt giảm giá trị trái phiếu chính phủ có thể là một cú đòn mạnh đánh vào vốn của một số ngân hàng. Các công ty bảo hiểm cũng có thể bị vướng vào rủi ro này do nắm giữ đáng kể nợ chủ quyền, trái phiếu ngân hàng và doanh nghiệp. Đáng quan ngại hơn là những rủi ro trong khu vực tài chính lại có thể được chuyển sang cho các công ty và hộ gia đình, từ đó gây tổn hại đến tăng trưởng kinh tế.

Mất cân đối tài chính ở Trung Quốc:

Bất ổn tài chính ở Trung Quốc vẫn ở mức cao và chính quyền đang đứng trước một lựa chọn khó khăn giữa việc hỗ trợ tăng trưởng trong ngắn hạn, hay chống lại các cú sốc bất lợi từ bên ngoài và thu hẹp tỷ lệ đòn bẩy bằng việc thắt chặt quy định. Tuy nhiên, việc nới lỏng tiền tệ và tín dụng có thể làm tăng các bất ổn, vì tăng trưởng tín dụng liên tục có thể làm chậm hoặc cản trở việc sửa chữa bảng cân đối ngân hàng và làm trầm trọng thêm những sai lệch hiện nay trong phân bổ tín dụng. Trong khi đó, tầm ảnh hưởng của Trung Quốc đối với các thị trường mới nổi khác sẽ tiếp tục tăng khi chứng khoán của Trung Quốc được đưa vào các chỉ số chuẩn; dòng vốn đầu tư vào Trung Quốc dự kiến sẽ tăng tới 150 tỷ USD vào năm 2020 do kết quả của việc Trung Quốc được đưa vào chỉ số trái phiếu toàn cầu.

Đầu tư vào thị trường mới nổi dễ biến động:

Danh mục đầu tư vào các thị trường mới nổi ngày càng bị ảnh hưởng bởi các nhà đầu tư theo chuẩn. Ước tính cho thấy 70% phân bổ quốc gia của các quỹ đầu tư bị ảnh hưởng bởi các chỉ số chuẩn. Tuy nhiên do các nhà đầu tư theo chuẩn là nhạy cảm hơn với những thay đổi trong điều kiện tài chính toàn cầu so với các nhà đầu tư khác. Điều đó khiến các cú sốc bên ngoài có thể lan truyền đến các nền kinh tế thị trường mới nổi và trung bình nhanh hơn so với trước đây.

Giá nhà có nguy cơ điều chỉnh:

Giá nhà tăng nhanh trong thời gian gần đây tại nhiều quốc gia đã làm dấy lên mối lo ngại về khả năng điều chỉnh giá. Việc giá nhà đang bị định giá quá cao cùng với điều kiện tài chính được siết chặt hơn giúp dự đoán rủi ro giảm giá nhà đang gia tăng trong 3 năm tới ở một số quốc gia. Giá nhà giảm có thể dẫn tới rủi ro suy giảm tăng trưởng GDP, thậm chí là khủng hoảng tài chính.

Ngoài ra còn một rủi ro nữa là tâm lý của các nhà đầu tư có thể xấu đi đột ngột. Điều này sẽ có tác động lớn hơn đối với các nền kinh tế có nền tảng yếu, dễ bị tổn thương hơn và có ít dư địa chính sách để đối phó với các cú sốc. Các yếu tố kích hoạt có thể bao gồm: Suy giảm tăng trưởng mạnh hơn dự kiến có thể dẫn đến việc các điều kiện tài chính bị siết chặt hơn; hay những rủi ro chính trị và chính sách, như leo thang căng thẳng thương mại hoặc Brexit không có thỏa thuận, có thể ảnh hưởng đến tâm lý thị trường và khiến rủi ro tăng đột biến.

Trong bối cảnh rủi ro gia tăng đối với tăng trưởng toàn cầu, IMF khuyến nghị, các nhà hoạch định chính sách nên đặt mục tiêu tránh sự suy giảm kinh tế mạnh hơn, đồng thời kiểm soát các bất ổn tài chính. Theo đó, các nhà hoạch định chính sách cần truyền đạt rõ ràng mọi thay đổi về lập trường chính sách tiền tệ. Điều này sẽ giúp cho thị trường tài chính tránh được những biến động không cần thiết.

Với các quốc gia có bất ổn tài chính cao hoặc đang gia tăng, các nhà hoạch định chính sách nên chủ động triển khai các công cụ thận trọng hoặc mở rộng các bộ công cụ vĩ mô của họ khi cần thiết, chẳng hạn như bộ vốn dự phòng phản chu kỳ, để tăng khả năng phục hồi của hệ thống tài chính. Các quốc gia này cũng nên tập trung vào việc phát triển các công cụ thận trọng để giải quyết nợ doanh nghiệp đang gia tăng từ các trung gian tài chính phi ngân hàng cũng như những rủi ro kỳ hạn và thanh khoản trong khu vực phi ngân hàng.

Với các nền kinh tế thị trường mới nổi, IMF khuyến nghị, cần nâng cao khả năng ứng phó với sự chảy ra của dòng vốn đầu tư nước ngoài bằng cách giảm các khoản nợ bên ngoài quá mức, giảm sự phụ thuộc vào nợ ngắn hạn và duy trì bộ đệm dự trữ ngoại hối và tài chính đầy đủ…

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.444 26.318 29.676 30.181 20582 22037
BIDV 23.145 23.265 25.513 26.260 29.766 30.332 20783 21466
VietinBank 23.126 23.256 25.447 26.282 29.663 30.303 21053 21653
Agribank 23.145 23.255 25.430 26.822 29.641 30.126 21072 21455
Eximbank 23.140 23.250 25.484 25.835 29.808 30.219 21197 21490
ACB 23.130 23.250 25.478 25.828 29.882 30.218 21197 21488
Sacombank 23.105 23.265 25.476 26.080 29.841 30.244 21131 21585
Techcombank 23.134 23.274 25.242 26.237 29.483 30.406 21045 21761
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.408 25.878 29.825 30.264 21161 21557
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.280
41.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.280
41.500
Vàng SJC 5c
41.280
41.520
Vàng nhẫn 9999
41.210
41.660
Vàng nữ trang 9999
40.700
41.500