09:13 | 14/03/2019

Sau 1000 điểm là gì?

Xu hướng tăng đang khá rõ ràng nên nhà đầu tư có thể duy trì tỷ trọng cổ phiếu cao trong danh mục

Như vậy là VN-Index đã có 2 phiên liên tiếp đóng cửa trên mức 1.000 điểm tính đến phiên ngày 13/3 hôm qua. Trải qua nhiều tháng để thấy chỉ số này vượt qua mốc tâm lý quan trọng rõ ràng đã khiến nhiều người phấn khích. Câu hỏi đặt ra là, khi VN-Index vượt 1.000 điểm thì diễn biến thị trường sẽ thế nào?

Xu hướng tăng đang khá rõ ràng nên nhà đầu tư có thể duy trì tỷ trọng cổ phiếu cao trong danh mục

Sự thận trọng dù có suy giảm thì thực ra vẫn còn. Trước khi VN-Index vượt 1.000 điểm thì nhiều nhà đầu tư lo ngại đà tăng có thể bị chững lại nhưng đến khi vượt được thì lại thắc mắc mốc 1.000 điểm liệu có cơ sở để duy trì hay không? Thực tế vùng dao động 980-1.000 điểm của VN-Index đã được dự báo khá rộng rãi và hiện vẫn đang diễn biến như vậy. Nếu VN-Index có thể trụ được trên 1.000 điểm hoặc tiến thẳng đến 1.020 điểm thì xu hướng mới bị thay đổi. Trong trường hợp chỉ bật vài phiên quá 1.000 điểm rồi sau đó lại điều chỉnh thì biến động được dự báo trước đó vẫn không thay đổi.

Phiên giao dịch 13/3 diễn ra khá tích cực với sắc xanh hiện diện trên cả 3 chỉ số. Theo đó, VN-Index đóng cửa tăng 4,09 điểm (0,41%) lên 1.005,41 điểm; HNX-Index tăng 0,27 điểm (0,25%) lên 109,82 điểm và Upcom-Index tăng 0,34% lên 56,77 điểm.

Giao dịch khối ngoại tiếp tục là điểm nhấn đáng chú ý khi họ mua ròng hơn 100 tỷ đồng. Trong đó, các cổ phiếu được mua mạnh là VRE (61,6 tỷ đồng), E1VFVN30 (40,7 tỷ đồng)…

Quay trở lại một chút. Khi VN-Index đóng cửa trên mốc 1.000 điểm vào ngày 12/3, điểm nổi bật nhất chính là sự trở lại của nhóm ngân hàng khi rất nhiều mã trong ngành đã tăng với tỷ lệ khoảng 3% trong phiên. Sự đồng thuận cũng lan tỏa khi một số cổ phiếu lớn khác như BVH, PLX, MWG... đều tăng. Nhưng sang đến phiên ngày 13/3 thì sự phân hóa lập tức diễn ra. Cổ phiếu ngân hàng dù vẫn đóng góp quan trọng vào đà tăng nhưng số lượng đã giảm so với phiên trước. Các cổ phiếu lớn cũng chỉ biến động quanh mốc tham chiếu. Diễn biến này nhiều khả năng sẽ tạo ra 2 kịch bản cho VN-Index những ngày tới đây:

Kịch bản 1: Nếu VN-Index có khả năng duy trì việc đóng cửa trên 1.000 điểm trong khoảng 8 phiên liên tục thì việc hướng đến ngưỡng 1.020-1.050 điểm là khả thi. Theo kịch bản này VN-Index sẽ sớm vượt ngưỡng 1.020 trong vài phiên tới nhưng đồng thời sẽ xuất hiện những phiên rung lắc rất mạnh tại vùng 1.020-1.030 điểm.

Kịch bản 2: Nếu VN-Index không trụ được trên 1.000 điểm quá 8 phiên thì khả năng sẽ lùi về vùng 980 điểm bằng một số phiên điều chỉnh rất mạnh. Trong trường hợp này xảy ra thậm chí VN-Index còn có thể giảm sâu xuống dưới 980 điểm trong ngắn hạn.

Tuy nhiên dù kịch bản nào xảy ra cũng không tránh khỏi một sự phân hóa cực kỳ gay gắt trên thị trường. Dù VN-Index có tăng nhưng niềm vui cũng không dành cho tất cả. Sẽ chỉ có một nhóm cổ phiếu trụ cột và một vài nhóm tăng điểm. Còn lại một số cổ phiếu không tăng và chỉ cần thị trường chung điều chỉnh là giảm theo lập tức. Các nhóm cổ phiếu hút tiền trong thời gian tới nhiều khả năng sẽ tiếp tục là ngân hàng, dầu khí và tài chính. Tuy nhiên một số cổ phiếu có kết quả kinh doanh khả quan và tin tốt từ đại hội cổ đông cũng có thể tạo đột biến ngắn hạn.

Trong điều kiện hiện tại, xác suất xảy ra 2 kịch bản kể trên là 60% cho kịch bản 1 và 40% cho kịch bản 2. Xu hướng tăng đang khá rõ ràng nên việc nhà đầu tư có thể duy trì tỷ trọng cổ phiếu cao trong danh mục là khả thi. Dù vậy cũng cần những toan tính thận trọng trong trường hợp có những biến động mạnh.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.375 23.495 25.924 26.730 29.473 29.945 208,21 216,93
BIDV 23.350 23.470 25.909 26.659 29.483 29.980 209,73 215,03
VietinBank 23.355 23.485 25.900 26.635 29.437 30.077 210,08 216,58
Agribank 23.345 23.440 25.887 26.283 29.465 29.948 209,50 213,28
Eximbank 23.295 23.470 25.925 26.282 29.595 30.003 210,71 213,61
ACB 23.370 23.470 25.917 26.273 29.653 29.984 210,82 213,71
Sacombank 23.322 23.477 25.934 26.392 29.628 30.037 209,96 214,53
Techcombank 23.355 23.495 25.678 26.539 29.256 30.137 209,43 216,66
LienVietPostBank 23.330 23.470 25.844 26.321 29.580 30.020 210,17 214,09
DongA Bank 23.370 23.460 25.960 26.260 29.600 29.970 207,30 213,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.220
36.410
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.220
36.390
Vàng SJC 5c
36.220
36.410
Vàng nhẫn 9999
36.240
36.640
Vàng nữ trang 9999
35.790
36.390