14:02 | 12/07/2018

‘Sốt’ đất ở nhiều tỉnh phía Bắc

Đang xuất hiện hiện tượng sốt đất tại một số các tỉnh phía bắc như Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh…

Thông tin trên vừa được ông Nguyễn Văn Đính - Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hội Môi giới bất động sản Việt Nam - chia sẻ với phóng viên thoibaonganhang.vn.

Theo vị này, bất động sản các tỉnh thành nói trên vừa qua đã có sự điều chỉnh giá mạnh so với các năm trước đây. "Bình quân các dự án đến nay đều tăng giá thêm khoảng 30% so với năm 2017", ông Đính cho biết.

 

Một dự án của Công ty cổ phần Tập đoàn Tiến Bộ tại Thái Nguyên

Lý giải nguyên nhân, ông Đính cho biết do giá đất ở Hà Nội đã bị đẩy lên mức cao, tạo ra xu hướng dịch chuyển sang các tỉnh thành lân cận của các doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Hiện tại, giá bất động sản ở Hà Nội cũng gần như không có tỷ lệ tăng cao như vài năm trước đây, thậm chí có nhiều dự án còn giảm giá bán bằng nhiều hình thức khác nhau nên kém hấp dẫn đối với nhà đầu tư.

Trong khi đó, tại các địa bàn mới, doanh nghiệp bất động sản dễ phát triển dự án hơn vì nguồn vốn đầu tư không quá lớn. 

Theo đó, thời gian vừa qua, nhiều nhà đầu tư thứ cấp, các nhà phát triển bất động sản có quy mô nhỏ và vừa... đã dịch chuyển hoạt động đến những thị trường mới tại các “tỉnh lẻ” trên cả nước, nơi có sức hấp dẫn hơn do giá cả hợ lý hơn và các chính sách ưu đãi đầu tư thông thoáng, đặc biệt là có sự đầu tư mạnh của Nhà nước vào hệ thống hạ tầng giao thông đô thị. Những chuyển dịch này thực sự đã làm thay đổi, làm sôi động thị trương bất động sản tại các tỉnh thành nói trên.

Thực tế, phân khúc đất nền tại các tỉnh phía Bắc bắt đầu được quan tâm từ cuối năm 2016. Tuy nhiên, phải đến đầu năm 2018 thì thị trường mới thực sự phát triển mạnh mẽ.

Cụ thể, tại TP. Thái Nguyên, Văn phòng Đại diện Hội Môi giới bất động sản Việt Nam Khu vực các tỉnh Đông Bắc ghi nhận lượng cung ở các sản phẩm, cả chung cư, biệt thự liền kề và đất nền đều gia tăng. Theo thống kê có tới gần 3.000 căn chung cư, gần 2.000 nền đất và khoảng 400 căn biệt thự liền kề được chào bán trong thời gian qua, tỷ lệ hấp thụ tương đối lớn.

Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm nay, có 778 căn chung cư, 912 sản phẩm đất nền và 466 sản phẩm biệt thự, nhà liền kề được giao dịch trên địa bàn TP. Thái Nguyên. Trong đó, các sản phẩm giao dịch chủ yếu thuộc các dự án TBCO riverside, Tecco Thái Nguyên, Khu đô thị Cosy Gia Sàng… Mức giá bán căn hộ chung cư dao động từ 8 - 14 triệu đồng/m2.

Nhiều dự án được đầu tư vào trường bất động sản Thái Nguyên với số vốn lớn, như Công ty cổ phần Thương mại Thái Hưng đầu tư vào Dự án Khu tổ hợp thương mại dịch vụ, trường học và nhà ở Thái Hưng Eco City tại phường Gia Sàng, TP. Thái Nguyên; Dự án Công viên giáo dục trải nghiệm Thái Hưng tại TP. Thái Nguyên. Tổng vốn đầu tư 2 dự án là 2.515 tỷ đồng; Dự án bất động sản khu chung cư Gang Thép thuộc phường Trung Thành, TP. Thái Nguyên của Công ty cổ phần Tập đoàn Tiến Bộ, có tổng vốn đầu tư 800 tỷ đồng.

Tại Quảng Ninh, do bắt đầu vào mùa du lịch nên thị trường bất động sản quý II cũng đã có những khởi sắc hơn so với quý I. Số lượng giao dịch như thường lệ vẫn tập trung vào ba khu vực chính là TP. Hạ Long, TP. Móng Cái và Vân Đồn. Bên cạnh đó, những thành phố “mới” như Cẩm Phả, Uông Bí cũng có số lượng giao dịch đất nền đang gia tăng.

Nhiều “ông lớn” bất động sản như Vingroup, Sungroup, FLC… đã tham gia đầu tư rất mạnh, tạo ra nhiều sản phẩm nhà ở tại Quảng Ninh. Các dòng sản phẩm như nhà phố, shophouse có nhiều giao dịch thành công.

Theo báo cáo từ các sàn giao dịch bất động sản trên địa bàn TP. Hạ Long, tổng số giao dịch thành công trong quý vừa qua đã lên đến hơn 1.000, trong đó điểm sáng là dự án Dragon Hill City đã bán thành công 95% lượng hàng. Số lượng sản phẩm chung cư giao dịch thành công khoảng 300 căn, 200 căn đất nền đã được giao dịch, còn lại là các sản phẩm shophouse, biệt thự, liền kề… Giá đất nền tại TP. Hạ Long có tăng nhẹ khoảng 3% tại các dự án có tiềm năng cao và đồng bộ.

Tại Bắc Ninh, những nơi có các khu công nghiệp và các khu hành chính mới hầu như đều có các dự án nhà ở đi theo. Hiện có tới 18 dự án nằm ở các khu vực TP. Bắc Ninh, Từ Sơn, Thuận Thành, Tiên Du, Quế Võ, Yên Phong… “Lực hấp thụ tại các dự án hiện nay khá tốt, thường đạt trên 60% lượng giao dịch cho mỗi đợt ra hàng”, ông Nguyễn Văn Đính cho hay.

Các tỉnh ở khu vực phía Bắc khác như Thanh Hóa, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Nghệ An… đều xuất hiện nhiều dự án phát triển nhà ở và có lượng giao dịch rất sôi động.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.255 23.345 25.960 26.427 29.615 30.089 198,97 206,00
BIDV 23.255 23.345 25.951 26.311 29.635 30.097 202,64 206,13
VietinBank 23.252 23.352 25.957 26.382 29.629 30.189 202,03 205,78
Agribank 23.235 23.315 26.160 26.512 29.814 30.260 202,05 206,00
Eximbank 23.250 23.350 26.000 26.347 29.776 30.73 202,92 205,64
ACB 23.260 23.340 26.020 26.355 29.879 30.189 202,92 205,53
Sacombank 23.266 23.358 26.032 26.387 29.829 30.183 203,48 206,55
Techcombank 23.235 23.345 26.735 26.449 29.414 30.246 202,01 20724
LienVietPostBank 23.240 23.340 25.896 26.350 29.755 30.170 203,06 206,72
DongA Bank 23.270 23.350 26.030 26.340 29.790 30.160 201,60 205,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.380
36.540
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.380
36.520
Vàng SJC 5c
36.380
36.540
Vàng nhẫn 9999
34.570
34.970
Vàng nữ trang 9999
34.220
34.920