15:31 | 15/06/2017

Sức ép tỷ giá không đến từ FED mà từ thâm hụt thương mại

Kết thúc kỳ họp dài hai ngày, vào rạng sáng ngày 15/6/2017, Cục dữ trữ Liên bang Mỹ (FED) đã quyết định tiếp tục tăng lãi suất thêm 25 điểm (0,25%). Ông Ngô Đăng Khoa – Trưởng phòng Kinh doanh Ngoại hối và Trái phiếu của ngân hàng HSBC Việt Nam đã có một vài nhận định xung quanh về việc này.

Ông Ngô Đăng Khoa

Ông Khoa cho biết, mặc dù đây là lần tăng lãi suất thứ 3 của FED trong vòng 6 tháng qua, song đồng USD không có biến động nhiều do thị trường đã kỳ vọng việc tăng lãi suất của FED trong phiên họp.

Tuy nhiên, FED cũng đã công bố chi tiết hơn kế hoạch giảm khoản trái phiếu QE mà FED đã mua trong và sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế nhằm hỗ trợ thanh khoản và tăng trưởng kinh tế.

Theo đó, Ủy ban Thị trường mở (FOMC) dự định sẽ đặt ra mức 6 tỷ USD/tháng cho trái phiếu chính phủ Mỹ và sau đó tăng dần lên 30 tỷ USD trong bốn quý tiếp theo khối lượng trái phiếu FED sẽ để đáo hạn. Đối với chứng khoán thế chấp (Mortgage-Backed Securities - MBS), hạn mức đặt ra là 4 tỷ USD/tháng và sẽ tăng lên 20 tỷ USD trong vòng một năm. Chủ tịch FED Janet Yellen cho rằng nếu kinh tế Mỹ tiến triển như kế hoạch thì khả năng giảm khối lượng nắm giữ trái phiếu sẽ sớm hơn.

“Chúng tôi nghĩ có khả năng FED sẽ thông báo trong tháng 9/2017 và bắt đầu thực hiện lộ trình này vào tháng 10/2017”, ông Khoa nhận định và dự báo: “Lần tăng lãi suất tiếp theo sẽ vào tháng 12 thay vì tháng 9 như dự đoán trước đây vì khó có khả năng FED muốn thắt chặt chính sách tiền với với việc tăng lãi suất và giảm khối lượng nắm giữ trái phiếu cùng một lúc trong tháng 9/2017”.

Sở dĩ như vậy là bởi đối với thị trường ngoại hối, việc giảm khối lượng trái phiếu nắm giữ của FED được nhận định một phần thay thế việc tăng lãi suất. Tuy nhiên việc giảm quy mô bảng cân đối tài sản của FED càng được sử dụng nhiều thì nhu cầu cần tăng lãi suất sẽ giảm đi; và do đó sẽ làm cho đồng USD yếu đi.

Với thị trường trong nước, ông Khoa cho biết, mặc dù tỷ giá USD/VND có biến động trong một số thời điểm, nhưng nhìn chung từ đầu năm đến giờ khá ổn định quanh mức 22.680-22.750 đồng/USD với thanh khoản thị trường khá tốt, nguồn cung khá dồi dào từ dòng vốn FDI, FII và các hoạt động M&A.

“Với xu hướng giảm nhẹ của đồng USD so với các đồng tiền chủ chốt trong thời gian sắp tới, tỷ giá USD/VND được kỳ vọng sẽ không có nhiều biến động. Tuy nhiên với cán cân thương mại thâm hụt khoảng 2,5 tỷ USD từ đầu năm đến giờ và khả năng có thể nới rộng lên 7 tỷ USD vào cuối năm sẽ tạo những áp lực nhất định lên tỷ giá USD/VND vào một số thời điểm”, ông Khoa nhận định.

Mặc dù trong hai tháng gần đây, lạm phát có xu hướng giảm nhưng trung bình năm tháng đầu năm (4,47%) vẫn cao hơn mục tiêu 4%. Song theo ông Khoa, lãi suất VND vẫn nên ở mức hấp dẫn thích hợp để vừa có thể hỗ trợ kinh tế nhưng cũng có thể duy trì sự ổn định của tỷ giá.

“Với chính sách của FED, xu hướng lãi suất và USD khá rõ ràng, khả năng, thị trường hiện chuyển sự tập trung qua Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và khả năng sẽ có nhiều yếu tố bất ngờ hơn trong thời gian tới”, vị chuyên gia này cho biết thêm.

Từ góc nhìn này, ông khuyến nghị các doanh nghiệp có những hoạt động liên quan đến rủi ro về lãi suất và tỷ giá vẫn nên theo dõi sát sao những biến động của thị trường và sử dụng những biện pháp phòng ngừa rủi ro thích hợp.

Nguồn :

Tags:
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,90
7,00
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,70
4,70
5,00
5,50
5,50
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,10
5,40
6,00
6,00
6,80
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,90
4,90
5,10
5,90
5,90
6,60
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
5,50
5,70
6,80
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
4,90
5,00
5,20
6,10
6,40
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.705 22.775 25.695 26.002 28.096 29.563 199,69 203,50
BIDV 22.705 22.775 25.708 26.004 28.119 29.556 200,30 203,28
VietinBank 22.695 22.775 25.699 25.987 28.084 29.535 200,24 203,23
Agribank 22.700 22.780 25.681 26.000 29.125 29.573 200,20 203,80
Eximbank 22.680 22.780 25.735 26.070 29.241 29.622 201,11 203,73
ACB 22.700 22.770 25.747 26.070 29.318 29.611 201,21 203,73
Sacombank 22.700 22.783 25.783 26.141 29.319 29.686 201,19 204,24
Techcombank 22.680 22.785 25.494 26.082 28.940 29.614 199,81 204,42
LienVietPostBank 22.680 22.770 24.473 25.018 29.280 29.580 199,11 203,51
DongA Bank 22.700 22.770 25.760 26.050 29.270 29.620 201,00 203,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.160
36.380
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.160
36.360
Vàng SJC 5c
36.160
36.380
Vàng nhẫn 9999
34.500
34.900
Vàng nữ trang 9999
34.200
34.900