09:11 | 24/06/2019

Tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng giảm trồng lúa

Giáo sư Võ Tòng Xuân cho rằng, cần tái cơ cấu ngành nông nghiệp ĐBSCL theo hướng giảm diện tích trồng lúa kém hiệu quả, chuyển sang các loại cây trồng, thủy sản giá trị cao. Tuy nhiên, Nhà nước cần thu hút các DN tham gia đầu tư vào vùng.

Bà Phạm Hoàng Vân, chuyên gia phát triển kinh tế Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định, tình trạng xâm nhập mặn đang xảy ra, ngành nông nghiệp cần chú trọng việc chuyển đổi từ đất trồng lúa dễ bị ảnh hưởng sang nuôi trồng thủy sản nước lợ và cây trồng chịu mặn. ĐBSCL nên trồng ít gạo hơn, nhưng cần thúc đẩy sản xuất gạo chất lượng cao hơn và gạo đặc chủng. Điều này sẽ giải phóng thêm đất để sản xuất các loại nông sản khác có giá trị cao, thích ứng với biến đổi khí hậu, như trái cây và rau quả.

Ảnh minh họa

Là một trong những nhà nông học đầu ngành, Giáo sư Võ Tòng Xuân cũng đồng quan điểm này khi cho rằng, cần tái cơ cấu ngành nông nghiệp ĐBSCL theo hướng giảm diện tích trồng lúa kém hiệu quả, chuyển sang các loại cây trồng, thủy sản giá trị cao. Tuy nhiên, Nhà nước cần thu hút các DN tham gia đầu tư vào vùng.

Điều này cũng phù hợp với dự báo, gạo được dùng chủ yếu làm thức ăn cho người sẽ có mức cầu tăng rất chậm với tổng mức giao dịch thương mại về gạo toàn cầu chỉ tăng khoảng 1,5% trong giai đoạn 2016-2024. Về cung gạo, bên cạnh các quốc gia có truyền thống xuất khẩu gạo vẫn tiếp tục duy trì sản xuất, đã xuất hiện một số đối thủ cạnh tranh mới như Campuchia, và Myanmar, có xu hướng kéo mặt bằng giá gạo đi xuống. Theo dự báo của WB, giá gạo của Việt Nam sẽ giảm 10% từ 423 USD/tấn vào năm 2014 xuống còn 380 USD/tấn vào năm 2025.

Là một DN đang đi theo hướng tái cơ cấu như trên, ông Phạm Thái Bình, Giám đốc Công ty cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Trung An (Cần Thơ) cũng cho biết, lâu nay, DN thường tập trung vào mặt hàng chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn gạo sạch hữu cơ hoặc Global Gap nên đầu ra khá ổn định. Để nâng cao giá trị của hạt gạo Việt và để Việt Nam có được những sản phẩm có thể cạnh tranh được ở thị trường thế giới, cần phải liên kết sản xuất giữa DN với nông dân một cách chặt chẽ. Có thể khẳng định, đây là mô hình hiệu quả nhất, đúng đắn nhất và cần thiết nhất hiện nay đối với Việt Nam, vì đây là cách để sản xuất theo tín hiệu thị trường DN sẽ chịu trách nhiệm thăm dò thị trường và đặt hàng nông dân sản xuất.

Cùng với đó, Bộ Công thương cũng khuyến cáo ngành nông nghiệp cần bố trí cơ cấu giống linh hoạt theo tín hiệu thị trường, định hướng sử dụng nhóm lúa chất lượng cao chiếm khoảng 50%; giống lúa thơm chiếm khoảng 25%; giống nếp, đặc sản địa phương khoảng 15% và giống chất lượng trung bình chỉ chiếm 10% trong tổng diện tích gieo trồng.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường nhận định, để tái cơ cấu nông nghiệp ĐBSCL, vấn đề mấu chốt là tập trung xử lý các yếu tố nội tại của vùng; sử dụng hiệu quả tài nguyên, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, biến nguy cơ thành thời cơ. Đề án tái cơ cấu nông nghiệp vùng ĐBSCL đã đặt mục tiêu rất cụ thể cho 3 ngành chủ lực là thủy sản, trái cây và lúa gạo.

Theo đó, không cứng nhắc duy trì sản xuất lúa và xuất khẩu gạo số lượng lớn, chỉ ở mức tối thiểu để giữ thị trường truyền thống, phát triển thị trường tiềm năng, khai thác tốt thị trường trong nước. Đến năm 2030, tại ĐBSCL, diện tích canh tác lúa dự kiến giảm 220 - 300 nghìn ha đi cùng với giảm diện tích lúa 3 vụ, chuyển đổi mạnh sang lúa 1, 2 vụ hoặc luân canh với cây màu/thủy sản. Tăng các nhóm giống lúa chất lượng cao, chống chịu tốt hơn với hạn mặn. Cơ giới hóa đồng bộ các khâu sản xuất, ứng dụng KHCN, giảm tối đa chi phí sản xuất, vật tư nông nghiệp.

Định hướng phát triển vùng ĐBSCL, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo đối với thị trường đất đai, cần nghiên cứu cơ sở khoa học để bố trí lại đất đai gắn liền với công nghiệp chế biến, xây dựng thương hiệu với các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Cần thúc đẩy chuyển đổi đất đai để thích nghi với nhu cầu và mục đích sử dụng đất trước sự biến đổi nhanh và khó lường của thiên nhiên. Nghiên cứu tiếp tục giảm diện tích đất trồng lúa trên cơ sở tăng năng suất chất lượng giống lúa. “Với tình trạng xâm nhập mặn, nếu nhìn cây lúa thì thấy thách thức, nhưng nếu nhìn con tôm thì có thể là cơ hội”, Thủ tướng nói.

ĐBSCL có diện tích 39.725km2 (chiếm 12% diện tích tự nhiên của cả nước), với trên 2,4 triệu héc-ta đất canh tác nông nghiệp và gần 700 nghìn héc-ta đất nuôi trồng thủy sản. Tổng dân số ước tính khoảng 20 triệu người (chiếm 22% dân số cả nước), đóng góp 17% GDP cả nước, trong đó: 40% giá trị sản xuất nông nghiệp, trên 50% sản lượng lúa cả nước, 90% sản lượng gạo; 65% sản lượng thủy sản, 70% sản lượng trái cây xuất khẩu ra nước ngoài. Năm 2018, ĐBSCL đứng đầu cả nước về sản lượng lúa, tôm, cá tra và trái cây (sản lượng lúa 24,5 triệu tấn, chiếm 56% sản lượng cả nước; sản lượng tôm 0,623 triệu tấn, chiếm 70%; sản lượng cá tra 1,41 triệu tấn, chiếm 95%; sản lượng trái cây 4,3 triệu tấn, chiếm 60%). Kim ngạch xuất khẩu các nông sản chủ lực ĐBSCL (gạo, cá tra, tôm, trái cây) đạt 8,43 tỷ USD, chiếm 73,34% kim ngạch xuất khẩu các nông sản chủ lực này của cả nước.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.550
41.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.550
41.850
Vàng SJC 5c
41.550
41.870
Vàng nhẫn 9999
41.530
41.980
Vàng nữ trang 9999
41.050
41.850