11:00 | 28/09/2018

Tăng năng lực tài chính của chủ đầu tư

Có thể nói nguồn vốn ngân hàng góp phần đảm bảo tiến độ, khối lượng đầu tư xây dựng các công trình giao thông, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển hạ tầng giao thông phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước. 

ADB dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam ở mức 6,9%
TS. Nguyễn Quốc Hùng

Theo tính toán của ADB, để duy trì mức tăng trưởng như hiện nay, Việt Nam cần tăng thêm đầu tư vào cơ sở hạ tầng khoảng 11 – 12% GDP mỗi năm trong giai đoạn 2016-2020. Vậy thời gian qua ngành Ngân hàng có chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng như thế nào và định hướng trong thời gian tới ra sao?

Phóng viên Thời báo Ngân hàng đã có cuộc trao đổi nhanh với TS. Nguyễn Quốc Hùng - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế NHNN để nắm rõ được những chính sách tín dụng mà ngành Ngân hàng đang triển khai đối với lĩnh vực này.

Thời gian qua vốn ngân hàng đầu tư đối với lĩnh vực hạ tầng giao thông ra sao, thưa ông?

NHNN đã, đang thực hiện quyết liệt các giải pháp tái cơ cấu ngành Ngân hàng, điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt đồng bộ, giữ ổn định được thị trường. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp trên đã góp phần khơi thông dòng vốn tín dụng, làm cơ sở để tăng vốn tín dụng cho phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, đặc biệt là hạ tầng giao thông.

Tính đến 30/6/2018, tổng mức cam kết tín dụng các NHTM cho đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông là hơn 282 nghìn tỷ đồng; hiện giải ngân khoảng hơn 146 nghìn tỷ đồng, tăng 4,08% so với năm 2017. Trong đó, riêng cam kết tín dụng đối với các dự án BOT, BT giao thông là hơn 172 nghìn tỷ đồng, dư nợ tín dụng là hơn 120 nghìn tỷ tăng 4,94% so với cuối năm 2017.

Có thể nói nguồn vốn ngân hàng góp phần đảm bảo tiến độ, khối lượng đầu tư xây dựng các công trình giao thông, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển hạ tầng giao thông phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, việc cấp tín dụng của các ngân hàng đối với lĩnh vực đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, đặc biệt là các dự án BOT, BT giao thông còn một số bất cập.

Ông có thể cho biết cụ thể những bất cập trên?

Các dự án BOT giao thông thường có tổng mức đầu tư lớn, thời gian vay vốn dài, trong khi năng lực tài chính của các nhà đầu tư đa phần còn hạn chế. Một số dự án đi vào thu phí không đúng tiến độ do chậm giải phóng mặt bằng, thi công… dẫn đến nguồn thu để trả nợ bị chậm.

Bên cạnh đó, nhiều dự án BOT trước đây các ngân hàng cho vay trong Hợp đồng BOT đều dự kiến lộ trình tăng phí theo chu kỳ 3 năm/lần. Tuy nhiên, thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về việc rà soát đề xuất điều chỉnh mức phí đường bộ, phí BOT để giảm chi phí cho DN và người dân, thời gian qua, Bộ Giao thông - Vận tải đã đàm phán với các nhà đầu tư để giảm giá dịch vụ sử dụng đường bộ của nhiều dự án…

Như vậy, trường hợp mức phí không tăng được theo như dự kiến trong các hợp đồng BOT thì nguồn thu của dự án có thể sẽ không đảm bảo để trả nợ vốn vay theo phương án tài chính ban đầu, dự án phải kéo dài thời gian hoàn vốn, dẫn đến ngân hàng phải cơ cấu kéo dài thời gian trả nợ, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Chưa kể, việc cho vay dài hạn đối với các dự án hạ tầng giao thông còn gặp các rủi ro liên quan đến chất lượng công trình, phản đối của người sử dụng dịch vụ…

Vậy để làm thế nào giảm thiểu rủi ro khi đầu tư vào các dự án hạ tầng giao thông, thưa ông?

Theo tôi, để thu hút vốn tín dụng thương mại vào các dự án hạ tầng giao thông cần thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết 437/NQ-UBTVQH như tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý đầu tư theo hình thức PPP; khắc phục những tồn tại, hạn chế của việc đầu tư theo hình thức BOT, BT trong thời gian qua. Nhất là việc lựa chọn nhà đầu tư, nhà thầu, các thông tin cần công khai minh bạch để thuận tiện cho người dân giám sát.

Để có nguồn vốn dài hơi cho các dự án lớn, theo tôi, bên cạnh việc tiếp tục thực hiện các giải pháp nhằm huy động các nguồn vốn có tính chất dài hạn như nguồn vốn ngân sách nhà nước, nguồn vốn ODA, trái phiếu Chính phủ… nên xem xét có cơ chế để huy động vốn từ các tổ chức quốc tế, nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự án giao thông. Nhà đầu tư cũng cần tăng vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án, nâng cao năng lực hoạt động vừa đáp ứng các điều kiện trong đầu tư các dự án BOT, BT giao thông vừa đáp ứng quy định trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.240 23.330 26.251 26.723 29.066 29.532 199,09 206,12
BIDV 23.240 23.330 26.237 26.603 29.105 29.565 202,71 206,19
VietinBank 23.228 23.328 26.199 26.704 29.015 29.575 202,68 206,43
Agribank 23.245 23.330 26.266 26.619 29.078 29.518 203,14 206,63
Eximbank 23.220 23.320 26.241 26.592 29.180 29.571 203,54 206,26
ACB 23.240 23.320 26.244 26.582 29.247 29.550 203,60 206,22
Sacombank 23.244 23.336 26.287 26.651 29.253 29.608 203,63 206,68
Techcombank 23.215 23.330 25.994 26.715 28.856 29.684 202,19 207,45
LienVietPostBank 23.230 23.330 26.187 26.645 29.234 29.645 202,91 206,59
DongA Bank 23.275 23.330 26.270 26.590 29.390 29.570 202,20 206,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.230
36.390
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.230
36.370
Vàng SJC 5c
36.230
36.390
Vàng nhẫn 9999
35.230
35.630
Vàng nữ trang 9999
34.888
35.580