17:00 | 31/01/2018

Tăng quy mô, giảm phụ thuộc vốn ngân hàng

Hiện kênh dẫn vốn cho nền kinh tế vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng (NH), mặc dù  mức vốn hóa TTCK đã tăng gần gấp đôi so với năm 2016. Việc cần thiết lúc này là phải tiếp tục gia tăng quy mô cho TTCK để tránh rủi ro cho nền kinh tế và hệ thống NH.

Khối ngoại chen chân vào ngành điện
Cơ hội mới cho cổ phiếu ngân hàng

Ông Lưu Trung Thái, Tổng giám đốc NHTMCP Quân đội (MB) cho rằng, 2017 là năm bùng nổ của TTCK Việt Nam, đưa VN- Index trở thành chỉ số chứng khoán tăng mạnh nhất châu Á (tăng 48% trong năm 2017) và đã chính thức vượt 1.000 điểm, lên 1.097 điểm vào ngày 30/1/2018, mức cao nhất của 11 năm gần đây.

VN-Index là 1 trong 3 chỉ số chứng khoán tăng trưởng mạnh nhất trên toàn cầu, sau Mông Cổ (+60%) và Argentina (+90%). Quy mô giao dịch 2 sàn bình quân đạt trên 4.700 tỷ đồng/phiên, tăng trưởng 68% so với năm 2016. Vốn hóa thị trường gồm cả UPCoM đạt 3,5 triệu tỷ đồng, tăng 79% so với đầu năm.

“Giá cổ phiếu MBB cũng đã tăng trên 100% trong năm 2017 và được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng trưởng trong thời gian tới”, ông Lưu Trung Thái phấn khởi nói.

Ảnh minh họa

Cùng với đó là những kỳ vọng mới về nền kinh tế với vai trò là phong vũ biểu của TTCK. TTCK tăng điểm liên tục ngay từ đầu năm 2017 và đạt đỉnh cao trong 10 năm gần đây cho thấy, đầu tư đang mở rộng và nền kinh tế tăng trưởng. Kết quả là năm 2017 cũng là năm có mức tăng trưởng GDP cao nhất trong 10 năm trở lại đây, đạt 6,81%. Thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tăng mạnh, đạt 6,1 tỷ USD, tăng 45% so với năm 2016. Tổng giá trị thị trường danh mục nắm giữ của NĐT nước ngoài đạt 32,5 tỷ USD, tăng 59% so với cuối năm 2016; khối ngoại mua ròng 1,1 tỷ USD cổ phiếu trên sàn giao dịch trong năm 2017, trong khi năm 2016 bán ròng khoảng 100 triệu USD.

Đáng nói là chức năng huy động vốn cho nền kinh tế diễn ra sôi nổi. Tổng mức huy động vốn trên TTCK ước đạt 224.000 tỷ đồng. Huy động qua cổ phần hóa thoái vốn đạt gần 15.000 tỷ đồng  với tỷ lệ thành công đạt 91%. Số lượng tài khoản của NĐT đạt 1,9 triệu tài khoản, tăng 11% so với cuối năm 2016.

Ngoài yếu tố vĩ mô ổn định và tăng trưởng tốt, Chính phủ đã có nhiều cải cách quyết liệt, theo ông Thái, còn có đóng góp rất lớn của NHNN trong việc triển khai đồng bộ các giải pháp để giảm lãi suất, giữ lạm phát thấp, tỷ giá ổn định để sản xuất kinh doanh và hỗ trợ cho sự phát triển vượt bậc của TTCK trong những năm qua.

Để TTCK tiếp tục tăng trưởng và phát triển bền vững trong những năm tới, ông Thái cho rằng Bộ Tài chính, UBCKNN cần tiếp tục gia tăng quy mô cho TTCK niêm yết bằng cách tiếp tục IPO các công ty nhà nước, thu hút các DN niêm yết. Tổng mức vốn hóa TTCK Việt Nam (gồm cả UPCoM) hiện nay mới chỉ bằng khoảng 75% GDP, còn thấp khi so sánh với các thị trường trong khu vực châu Á, như ở Thái Lan là 103% GDP, Singapore là 215% GDP, Hong Kong là 995% GDP.

Trong khi đó, so sánh ở bình diện khác, tổng tín dụng toàn hệ thống ngân hàng ở Việt Nam hiện nay chiếm khoảng 130% GDP, cao gấp đôi so với vốn hóa của TTCK. Điều này có nghĩa là kênh dẫn vốn cho nền kinh tế vẫn phụ thuộc khá lớn vào hệ thống ngân hàng, mặc dù mức vốn hóa thị trường đã tăng gần gấp đôi so với năm 2016.

“Việc cần thiết phải tiếp tục gia tăng quy mô cho TTCK tránh rủi ro cho nền kinh tế quá phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng”, ông Thái nói.

Bên cạnh đó, UBCKNN và Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam cũng cần sớm có các giải pháp kỹ thuật trong giao dịch chứng khoán hàng ngày để rút ngắn thời gian thanh toán bù trừ về T+l, T+0, giúp gia tăng tính thanh khoản cho thị trường, hấp dẫn NĐT. Ông Thái cũng kiến nghị UBCKNN triển khai mô hình tổ chức định mức tín nhiệm cho từng DN niêm yết. UBCKNN cũng cần thiết lập mô hình cảnh báo sớm đối với công ty niêm yết. Hiện nay việc quy định hủy niêm yết bắt buộc là một hành động cần thiết để thanh lọc thị trường nhưng sẽ dẫn đến những tổn thất và mất niềm tin vào thị trường.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,70
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.300 26.589 26.907 29.484 29.956 207,30 213,80
BIDV 23.230 23.310 26.552 26.872 29.474 29.923 209,44 212,65
VietinBank 23.200 23.290 26.523 26.901 29.426 29.986 208,98 212,38
Agribank 23.235 23.315 26.618 26.948 29.528 29.959 209,54 213,57
Eximbank 23.200 23.300 26.564 26.920 29.582 29.978 209,89 212,70
ACB 23.230 23.310 26.614 26.957 29.700 30.007 209,84 212,54
Sacombank 23.221 23.314 26.635 26.998 29.671 30.038 210,06 213,14
Techcombank 23.210 23.310 26.359 27.071 29.284 30.100 208,75 214,17
LienVietPostBank 23.210 23.310 25.560 27.022 29.624 30.041 209,86 213,58
DongA Bank 23.230 23.310 26.620 26.940 29.610 29.980 208,60 212,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.600
36.800
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.600
36.780
Vàng SJC 5c
36.600
36.800
Vàng nhẫn 9999
34.350
34.750
Vàng nữ trang 9999
33.900
34.700