09:12 | 05/10/2018

Tăng trưởng khu vực EAP dự báo thấp hơn so với 2017

Tăng trưởng kinh tế ở khu vực Đông Á và Thái Dương (EAP) dự kiến đạt 6,3% trong năm 2018, thấp hơn so với 2017 do các bất ổn gia tăng.

Rủi ro gia tăng

Đây là dự báo được Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra trong Báo cáo cập nhật kinh tế khu vực EAP công bố ngày 4/10/2018. Báo cáo nhận định, việc cùng lúc xuất hiện các yếu tố phức tạp như căng thẳng thương mại gia tăng, Fed tăng lãi suất, thị trường tài chính biến động ở nhiều nền kinh tế mới nổi, tăng trưởng của Trung Quốc tiếp tục chững lại… đã làm tăng tình trạng bất định về triển vọng tăng trưởng của khu vực. Đồng thời, lạm phát cũng bắt đầu tăng lên ở nhiều nước.

WB khuyến nghị các chính sách để khu vực EAP chèo lái qua bất ổn

“Hội nhập khu vực và toàn cầu khiến cho nhiều nền kinh tế trong khu vực dễ bị tổn thương hơn với những cú sốc bên ngoài. Những rủi ro chính đối với duy trì tăng trưởng vững bao gồm chủ nghĩa bảo hộ leo thang, biến động trên thị trường tài chính tăng lên, kết hợp với tình trạng tài chính và ngân sách trong nước dễ tổn thương”, ông Sudhir Shetty, chuyên gia kinh tế trưởng của WB, phụ trách khu vực EAP cho biết tại cuộc họp báo trực tuyến công bố báo cáo cập nhật.

Trong đó, tăng trưởng của Trung Quốc dự kiến sẽ chậm lại còn 6,5% trong năm 2018, sau khi đạt mức tăng trưởng cao hơn dự kiến trong năm 2017. Tăng trưởng ở các quốc gia đang phát triển khu vực EAP, ngoại trừ Trung Quốc, dự kiến vẫn ổn định ở mức trung bình 5,3% từ năm 2018 đến năm 2020, chủ yếu nhờ cầu trong nước.

Tăng trưởng của Thái Lan và Việt Nam dự kiến sẽ đứng vững trong năm 2018 trước khi chững lại trong năm 2019 và 2020 do cầu trong nước mạnh hơn, nhưng cũng chỉ bù đắp được một phần tăng trưởng xuất khẩu ròng chững lại. Indonesia giữ được tăng trưởng ổn định nhờ triển vọng về đầu tư và tiêu dùng tư nhân được cải thiện.

Tăng trưởng của Philippines trong năm 2018 sẽ chậm lại, nhưng đầu tư công tăng lên theo dự kiến sẽ đẩy mạnh tăng trưởng trong trung hạn. Tăng trưởng của Malaysia dự kiến sẽ chững lại do tăng trưởng xuất khẩu giảm và đầu tư công cũng đang giảm xuống do hủy bỏ hai dự án hạ tầng lớn.

Triển vọng tăng trưởng ở các nền kinh tế nhỏ hơn trong EAP vẫn vững, ở mức bình quân trên 6% mỗi năm tại Campuchia, Lào, Mông Cổ và Miến Điện trong giai đoạn từ 2018 đến 2020. Tăng trưởng ở các quốc đảo Thái Bình Dương cũng được cho là vẫn tương đối ổn định, dù rất dễ bị tổn thương bởi những cú sốc thiên tai.

Và hướng đối phó

Bà Victoria Kwakwa, người từng là Giám đốc quốc gia WB tại Việt Nam và hiện là Phó chủ tịch WB phụ trách EAP cho rằng: “Tăng trưởng bền vững đã, đang và sẽ tiếp tục là yếu tố chính để giảm nghèo và tình trạng dễ tổn thương trong khu vực. Chủ nghĩa bảo hộ và biến động trên thị trường tài chính có thể gây tổn hại đến viễn cảnh tăng trưởng trong trung hạn, trong đó người nghèo và những người dễ tổn thương nhất phải chịu những hệ quả bất lợi nhất. Đây là lúc các nhà hoạch định chính sách trong khu vực phải cảnh giác và chủ động tăng cường khả năngchống chịu và đương đầu của quốc gia”.

Chia sẻ quan điểm này, ông Sudhir Shetty cho rằng, trong bối cảnh rủi ro tăng lên, các nền kinh tế đang phát triển ở khu vực EAP cần vận dụng đầy đủ các chính sách tái cơ cấu, cẩn trọng KTVM sẵn có để đối phó với các cú sốc bên ngoài và nâng cao tốc độ tăng trưởng tiềm năng. Trong đó, một trong những ưu tiên trọng tâm là cần giảm nguy cơ tổn thương trong ngắn hạn và tạo dư địa chính sách sẵn sàng ứng phó với các cú sốc có thể xảy ra.

Theo báo cáo cập nhật này, cần chủ động theo đuổi các chính sách cẩn trọng vĩ mô để giúp xử lý tình trạng dễ tổn thương ở khu vực tài chính, giảm biến động trên thị trường vốn và quản lý các lĩnh vực gặp nguy cơ biến động tỷ giá. “Tỷ giá linh hoạt hơn có thể giúp quốc gia hấp thụ và điều chỉnh theo những cú sốc bên ngoài. Trong khi đó chính sách tài khóa thắt chặt là điều kiện để duy trì và tái tạo dư địa nhằm đối phó với diễn biến xấu trong tương lai mà không gây đe dọa đến bền vững nợ”, báo cáo cho biết.

Song song với đó, cần nhân đôi cam kết mở cửa hệ thống đầu tư và thương mại quốc tế dựa trên quy tắc, bao gồm tăng cường chiều sâu hội nhập kinh tế khu vực. Các nền kinh tế trong khu vực có thể được hưởng lợi thông qua tăng cường chiều sâu của những hiệp định thương mại hiện có và giảm các hàng rào phi thuế quan. Căng thẳng thương mại tiếp tục leo thang có thể tránh được bằng cách quay sang đàm phán song phương hoặc qua Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). 

Tăng cường chiều sâu cải cách cơ cấu, bao gồm tự do hóa một số lĩnh vực quan trọng, cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy năng lực cạnh tranh, tạo sân chơi công bằng giữa các DN, giữa trong nước và nước ngoài qua đó giúp giảm phân bổ nguồn lực không đúng chỗ và tạo việc làm... cũng là những khuyến nghị được báo cáo đưa ra cho các nước trong khu vực.

Ngoài ra, cần tăng cường an ninh kinh tế và đẩy mạnh khả năng lưu chuyển trong nền kinh tế thông qua các chương trình như trợ cấp tiền mặt có mục tiêu, các hệ thống bảo hiểm xã hội bền vững về tài khóa, đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ trước khi sinh và phát triển trẻ sơ sinh, tăng nguồn lực cho trường học ở các địa bàn khó khăn để giảm khoảng cách về tiếp cận và chất lượng giáo dục. Riêng với các quốc đảo Thái Bình Dương, báo cáo nhấn mạnh về nhu cầu chú trọng duy trì bền vững tài khóa và bền vững nợ đồng thời tiếp tục tăng cường khả năng chống chịu thiên tai.

“Điều kiện cần để cải thiện bền vững nợ là duy trì các nỗ lực nhằm tăng cường chính sách nợ và quản lý nợ, cải thiện về quản lý tài nguyên và nâng cao chất lượng chi tiêu. Các bước để giảm thiểu tác động thiên tai trong thời gian tới bao gồm tạo thêm dư địa tài khóa, cải thiện khả năng ứng phó, quản lý và giảm thiểu tác động khủng hoảng, đồng thời mở rộng các cơ chế đảm bảo xã hội có mục tiêu”, báo cáo chỉ ra.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.300 23.390 26.553 26.870 30.062 30.543 205,03 212,15
BIDV 23.305 23.395 26.570 26.902 30.105 30.581 205,23 208,77
VietinBank 23.299 23.394 26.464 26.842 30.026 30.586 205,35 208,75
Agribank 23.295 23.380 26.635 26.970 30.257 30.695 204,93 208,36
Eximbank 23.290 23.390 26.665 27.021 29.269 30.673 205,80 208,55
ACB 23.310 23.390 26.602 27.098 30.273 30.761 205,32 209,15
Sacombank 23.308 23.400 26.731 27.090 30.364 30.728 205,93 208,98
Techcombank 23.280 23.390 26.418 27.157 29.881 30.871 204,36 209,85
LienVietPostBank 23.290 23.390 26.487 26.949 30.191 30.612 205,93 209,63
DongA Bank 23.310 23.390 26.660 27.060 29.240 30.720 204,20 208,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.650
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.630
Vàng SJC 5c
36.490
36.650
Vàng nhẫn 9999
35.000
35.400
Vàng nữ trang 9999
34.550
35.350