10:53 | 08/10/2018

Tăng trưởng tốt, dấu ấn doanh nghiệp Việt đang dần rõ nét hơn

Trong khi lĩnh vực Nông nghiệp và Dịch vụ trong quý III/2018 giảm tốc thì sự cải thiện của lĩnh vực Công nghiệp và Xây dựng (với mức tăng trưởng +8,61%, cao hơn so với mức tăng +8,4% của quý II) đã giúp tăng trưởng GDP quý III có được mức + 6,88%, cao hơn so với quý II.

TIN LIÊN QUAN
Bất ngờ kinh tế quý III
Tăng trưởng GDP quý III/2018 đạt 6,88%
GDP năm 2018 ước tăng 6,7%, triển vọng có thể đạt cao hơn
Cơ cấu GDP chuyển dịch theo hướng tích cực

Trong Công nghiệp và Xây dựng, đáng chú ý nhất là sự cải thiện của ngành Xây dựng với mức tăng trưởng cao nhất kể từ đầu năm là +9,2%. Trong khi đó Công nghiệp Chế biến chế tạo - ngành có tỷ trọng giá trị lớn nhất trong GDP - đi ngang với tăng trưởng +12,1% còn Khai khoáng giảm -3,3% (quý II giảm -3,1%).

Theo báo cáo cập nhật kinh tế Việt Nam tháng 10 của Bộ phận Phân tích và Tư vấn đầu tư Khách hàng cá nhân thuộc Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI) vừa công bố, sự cải thiện của ngành Xây dựng có thể xuất phát từ sự cải thiện trong giải ngân vốn đầu tư toàn xã hội, đặc biệt là giải ngân đầu tư công.

Quý III/2018, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 507 nghìn tỷ đồng, tăng +12,5% so với cùng kỳ và đạt mức cao nhất 4 quý vừa qua. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước đạt mức tăng ấn tượng +14,9%, tăng gấp đôi tốc độ tăng trưởng của 2 quý trước đó. Nguồn vốn đầu tư tư nhân (chiếm tỷ trọng lớn nhất) cũng cải thiện nhẹ và vươn lên mức cao nhất nhiều năm, khi tăng tới +18,8%.

“Sự bù đắp của 2 nguồn vốn này cho FDI là minh chứng cho sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng tập trung hơn vào nội lực. Tăng tốc giải ngân vốn ngân sách cũng là một dấu hiệu tích cực bởi nguồn lực tài khóa đang đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng khi dư địa tiền tệ hẹp lại. Mặt khác, điều này cho thấy việc tháo gỡ các nút thắt trong giải ngân đầu tư công đang có tiến triển tốt”, báo cáo của SSI nhận định.

Cũng theo báo cáo này, mặc dù đóng góp của ngành Xây dựng là đáng ghi nhận, nhưng ngành Công nghiệp chế biến chế tạo - có tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP - mới thực sự là bệ đỡ để có được sự cải thiện trong quý III.

Đáng chú ý, trong khi Điện thoại và công nghiệp Điện tử là cấu phần quan trọng nhất trong ngành Công nghiệp chế biến chế tạo có dấu hiệu giảm sút thì sự cải thiện ở các ngành sản xuất khác (nhờ các chính sách đúng đắn) cũng như “may mắn” từ môi trường bên ngoài đã giúp cho Công nghiệp chế biến chế tạo vững vàng.

Đơn cử về chính sách, hàng loạt các quy định có tính bảo hộ với ngành sản xuất Ô tô và Dược phẩm trong thời gian qua đã phát huy tác dụng. Ngành sản xuất Xe có động cơ liên tục có cải thiện, sau 9 tháng đã vươn lên +16,3%, cao nhất 21 tháng. Tương tự, ngành Dược đạt +25,9%, cao nhất nhiều năm.

Về cơ may, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung và việc Trung Quốc giảm sản lượng các ngành công nghiệp ô nhiễm (thép) hay nhân công giá rẻ (dệt may) đã mở ra cơ hội cho xuất khẩu hàng hóa của Việt nam. Xuất khẩu Dệt may 9 tháng tăng tới +17,1%, cao nhất kể từ năm 2015; còn Sắt thép là +51,5%, duy trì tốc độ cao có được từ năm 2017.

Dấu ấn của doanh nghiệp Việt Nam cũng đang dần rõ nét hơn. Như trường hợp Thaco từ chỗ chiếm 36,8% thị phần ô tô 8 tháng 2017 đã vươn lên 39,5% trong 8 tháng năm 2018.

“Với tốc độ đầu tư và hiệu quả sản xuất cao, kỳ vọng khối tư nhân trong nước sẽ tăng tỷ trọng và ảnh hưởng, cân bằng lại vị thế của khối FDI trong cơ cấu kinh tế chung”, báo cáo này kỳ vọng.

Tựu chung lại từ số liệu vĩ mô 9 tháng, đã xuất hiện một số tín hiệu lạc quan hơn cho tăng trưởng kinh tế trong năm 2018 mà điểm nhấn chính nằm trong ngành công nghiệp.

Tuy vậy, đi cùng những kết quả này là những rủi ro không thể bỏ qua. Ngành nông nghiệp không còn giữ được phong độ cao như 2 quý đầu năm; ngành du lịch đang đối mặt với thách thức từ sự giảm tốc nhanh của khách du lịch quốc tế; áp lực gia tăng từ môi trường bên ngoài nhiều bất ổn hơn...

Báo cáo của SSI khuyến nghị, cùng với sự hồi phục của đầu tư công, việc thúc đẩy tăng trưởng duy trì ở mức cao của đầu tư tư nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đó là cơ sở cho sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần sự phụ thuộc vào FDI và tăng dần tỷ trọng của khối tư nhân trong nước.

“Tốc độ đầu tư nhanh và hiệu quả sản xuất cao, khối tư nhân với sự dẫn dắt của “Đàn Sếu Lớn” hứa hẹn sẽ mang lại những thay đổi nhanh chóng cho nền sản xuất cũng như dịch vụ của Việt Nam, tạo nền tảng cho tăng trưởng cao và bền vững trong các năm tiếp theo”, ông Nguyễn Đức Hùng Linh, Giám đốc Bộ phận Phân tích và Tư vấn đầu tư Khách hàng Cá nhân, SSI bình luận.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.245 23.335 26.198 26.669 28.793 29.254 199,20 206,24
BIDV 23.255 23.345 26.186 26.555 28.809 29.263 202,92 206,41
VietinBank 23.234 23.334 26.134 26.639 28.746 29.306 202,78 206,53
Agribank 23.250 23.340 26.182 26.535 28.815 29.252 202,98 206,48
Eximbank 23.230 23.330 26.175 26.526 28.874 29.260 203,59 206,31
ACB 23.250 23.330 26.184 26.521 28.991 29.291 203,71 206,33
Sacombank 23.249 23.341 26.249 26.508 28.989 29.344 203,75 206,82
Techcombank 23.225 23.335 25.954 26.672 28.589 29.408 202,36 207,60
LienVietPostBank 23.230 23.330 26.197 26.656 29.067 29.474 203,82 207,50
DongA Bank 23.250 23.330 26.210 26.520 28.920 29.280 202,30 206,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.190
36.370
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.190
36.350
Vàng SJC 5c
36.190
36.370
Vàng nhẫn 9999
35.210
35.610
Vàng nữ trang 9999
34.860
35.560