15:34 | 27/06/2018

Thanh khoản thấp, NĐT thận trọng

Điểm đáng chú ý nhất của thị trường chứng khoán phiên giao dịch ngày 26/6 là thanh khoản vẫn ở mức thấp. Tổng khối lượng giao dịch trên hai sàn HoSE và HNX chỉ đạt 192,5 triệu cổ phiếu với trị giá chỉ trên 4.000 tỷ đồng, trong đó, giao dịch thỏa thuận chiếm đến hơn 1.400 tỷ đồng và chỉ có khoảng 2.500 tỷ đồng là giao dịch khớp lệnh.

Một điểm chú ý khác là về cuối phiên thị trường đã có sự hồi phục so với phiên sáng khi biên độ giảm của các chỉ số chính đều được thu hẹp lại đáng kể. VN-Index chốt phiên chỉ còn giảm 7,5 điểm.

(-0,76%) xuống còn 983,02 điểm. HNX-Index giảm 1,07 điểm (-0,96%) xuống 110,92 điểm. Tuy nhiên, số mã giảm giá trên hai sàn vẫn áp đảo. Ở sàn HoSE, có tới 163 mã giảm giá, chỉ có 102 mã tăng giá. Còn ở HNX, số mã giảm là 86 và chỉ có 52 mã tăng. Đà giảm của nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn đã thu hẹp lại đáng kể như VRE, VNM, VCS, BID… là nguyên nhân chính giúp thị trường không còn giảm quá mạnh như trước.

Nhìn sang khối ngoại, phiên giao dịch ngày 26/6, trên HoSE, NĐTNN đã mua vào 7.975.600 triệu CP, trong khi bán ra 8.179.640 triệu CP. Tính chung trên HoSE, NĐTNN bán ròng 204.040 CP, với giá trị gần 6 tỷ đồng. Trên HNX, NĐTNN mua vào 139.400 CP, trong khi bán ra 677.100 CP.

Tính chung NĐTNN bán ròng 577.700 CP với giá trị 11,74 tỷ đồng. Còn trên UPCoM, NĐTNN mua vào 1.826.500 CP, bán ra 1.436.730 CP, tính chung NĐTNN mua ròng 389.770 với giá trị 5,6 tỷ đồng. Như vậy trong phiên, NĐTNN đã bán ròng gần 12 tỷ đồng, sau khi mua ròng 3 phiên trước đó.

Nhìn lại phiên giao dịch trước đó, ngày 25/6, các chỉ số có diễn biến tích cực ngay từ đầu phiên, mặc dù sức mua có phần yếu dần nhưng vẫn đóng cửa ở mức giá xanh, trong đó VN-Index tăng 7,35 điểm (+0,75%) đạt 990,52 điểm và VN30-Index tăng 9,04 điểm (+0,93%) đạt 982,09 điểm. HNX-Index và HNX30-Index cũng đóng cửa ngay sát trên tham chiếu lần lượt tại mức 111,99 điểm (+0,01%) và 200,59 điểm (+0,05%).

Theo các chuyên gia kinh tế, những biến động mạnh từ thị trường thế giới đã khiến tâm lý trở nên thận trọng hơn. Thanh khoản rất thấp trên cả hai thị trường cho thấy áp lực bán không quá mạnh nhưng sức cầu quá yếu.

Nhận định về xu hướng thị trường, nhiều ý kiến không chỉ tỏ ra thận trọng mà khá dè dặt với triển vọng thị trường. “VN-Index dù  đã có phiên giao dịch tăng điểm, tuy nhiên cây nến ngày là nến giảm trong phiên. Mặc dù là nến giảm, nhưng cây nến ngày 25/6 đã vượt qua khoảng trống được tạo ra bởi cây nến giảm ngày 19/6/2018. Vì vậy, VN-Index có khả năng sẽ tăng tiếp hướng về mức 1000-1010 trong phiên giao dịch tiếp theo”, SSI nhận định xu hướng.

Công ty Chứng khoán Bảo Việt cũng cho rằng, thị trường đang nghiêng về phía các mã tăng điểm. Vùng 983-988 điểm sẽ là vùng hỗ trợ của chỉ số trong một vài phiên kế tiếp. Nếu chỉ số giữ vững được vùng hỗ trợ này đồng thời bứt phá thành công qua vùng kháng cự tâm lý quanh 1.000 điểm, thì có thể kỳ vọng đường giá sẽ hướng đến đường SMA50 tương ứng 1033-1042 điểm trong ngắn hạn.

Trong kịch bản không giữ được vùng hỗ trợ trên thì khả năng chỉ số quay lại xu hướng giảm và hướng về vùng hỗ trợ 930-945 điểm cần phải được tính đến. Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng thì cho rằng, tín hiệu hồi phục vẫn chưa đủ mạnh khi giá vẫn chưa vượt lên lại MA 20 ngày, có thể thị trường còn dao động đi ngang tích lũy ở vùng hiện tại thêm một thời gian nữa. Mức hỗ trợ ngắn hạn ở vùng 960 điểm và kháng cự ngắn hạn ở vùng 1.040 điểm.

Một số chuyên gia khác thì dự báo, thị trường có thể sẽ có những nhịp giảm trong những phiên tới. Tuy nhiên, sự thay đổi của các chỉ số cơ bản còn phụ thuộc vào lực cầu của khối ngoại như thế nào bởi với sự giằng co của các chỉ số thời gian qua, tâm lý NĐT trong nước vẫn đang rất thận trọng.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.150 23.250 26.099 26.832 29.887 30.365 202,56 210,55
BIDV 23.150 23.250 26.101 26.481 29.921 30.408 207,12 210,76
VietinBank 23.145 23.255 26.091 26.846 29.854 30.414 207,07 213,57
Agribank 23.150 23.240 26.091 26.466 29.933 30.395 207,11 210,88
Eximbank 23.140 23.240 26.084 26.433 29.987 30.388 207,92 210,70
ACB 23.160 23.240 26.024 26.488 29.998 30.457 207,36 211,06
Sacombank 23.163 23.265 26.096 26.508 30.036 30.441 207,03 211,60
Techcombank 23.130 23.250 25.841 26.566 29.656 30.505 206,60 212,13
LienVietPostBank 23.140 23.240 26.046 26.523 30.084 30.522 207,48 211,23
DongA Bank 23.160 23.240 26.110 26.420 30.000 30.380 204,50 210,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.900
37.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.900
37.100
Vàng SJC 5c
36.900
37.120
Vàng nhẫn 9999
36.880
37.280
Vàng nữ trang 9999
36.630
37.230