10:00 | 11/10/2018

Thất nghiệp thấp có giúp Mỹ tránh khỏi khủng hoảng

Dữ liệu thống kê mới nhất về việc làm của Mỹ đang khẳng định xu hướng mạnh lên của thị trường lao động. 

Ảnh minh họa

Theo Bộ Lao động Mỹ, mặc dù trong tháng 9 nền kinh tế lớn nhất thế giới chỉ tạo thêm được 134.000 biên chế, thấp hơn nhiều so với kỳ vọng của giới chuyên gia là 185.000, song các số liệu của tháng 7 và 8 được sửa đổi tăng thêm khá lớn. Đặc biệt tỷ lệ thất nghiệp tiếp tục giảm còn 3,7% - mức thấp nhất kể từ tháng 12/1969 (tỷ lệ thất nghiệp đạt 3,5%).

Những cải thiện trên thị trường lao động, đặc biệt là tỷ lệ thất nghiệp đã đạt mức thấp trong gần 50 năm qua là rất có ý nghĩa. Thực tế đó có thể đem đến nhiều điều tốt đẹp cho nền kinh tế nhưng cũng có ý kiến cho rằng nó cũng đang tiềm ẩn những điều tồi tệ có thể xảy ra, đặc biệt khi so sánh với dữ liệu trong quá khứ.

Quay lại thời gian trước đây, tỷ lệ thất nghiệp đã từng đạt mức thấp hơn vào tháng 12/1969 khi nền kinh tế Mỹ đã trải qua một giai đoạn mở rộng chưa từng có trong khoảng thời gian gần 9 năm.

Tuy nhiên, trạng thái đó đã thay đổi nhanh chóng sau một năm khi tăng trưởng kinh tế gặp khó khăn vào năm 1970 – tỷ lệ thất nghiệp lúc này đã tăng lên gấp đôi, ở mức 6,1%. Những câu chuyện trong quá khứ đó đã khiến các nhà kinh tế liên tưởng đến các điều kiện hiện tại của kinh tế Mỹ, đồng thời xem đó như là một tín hiệu xấu.

Trên thực tế, các chuyên gia đầu tư đang phân vân về việc liệu nền kinh tế hiện tại đang có sự cải thiện hay không? Liệu nó có đang dịch chuyển trên con đường dẫn tới một cuộc suy thoái như đã từng xảy ra trong năm 1970.

Jim Paulsen - chiến lược gia đầu tư cao cấp của Leuthold Group cho rằng, diễn biến hiện tại không làm cho các nhà đầu tư yên tâm hay bối rối, đồng thời ông cũng không nhìn thấy khả năng nền kinh tế sẽ rơi vào trạng thái của những năm 70. Hay nói cách khác, các yếu tố nền tảng hiện cũng đã tốt hơn rất nhiều, cụ thể là niềm tin tiêu dùng và đầu tư đang gia tăng, lợi nhuận của công ty ở mức cao và tỷ lệ lãi suất mặc dù tăng nhưng vẫn ở mức thấp.

Mặc dù vậy, điều làm cho Jim Paulsen lo lắng đó là sự thay đổi đột nhiên của bất cứ điều kiện nào hiện nay, giống như việc xảy ra sự suy giảm của các nền kinh tế trên thế giới.

Ông cho rằng việc tăng trưởng nóng của nền kinh tế có thể dẫn đến những rắc rối, mở đường cho một thời kỳ thắt chặt các điều kiện tài chính khác. Trước những quan ngại đó, Paulsen cũng dự báo rằng nền kinh tế có thể tự đặt mình vào tình trạng tăng trưởng chậm lại, một phiên bản nhẹ hơn xuất hiện vào cuối năm 70 có thể xảy ra.

Thêm vào đó, sự phục hồi mạnh mẽ của thị trường lao động cũng đặt ra một câu hỏi là liệu diễn biến tích cực đó có dẫn đến việc tăng lương ở mức cao hơn – là nguyên nhân dẫn đến lạm phát cao? Đây cũng là vấn đề NHTW Mỹ (Fed) hết sức quan tâm. Fed đã bắt đầu lộ trình tăng lãi suất vào tháng 12/2015 và tiếp tục kéo dài nhiều khả năng cho đến năm 2020.

Các thành viên tham gia thị trường quan ngại rằng Fed sẽ giữ lãi suất ở mức cao cho tới khi xuất hiện sự đảo ngược của đường cong lợi suất - có nghĩa là lợi suất các trái phiếu có kỳ hạn ngắn sẽ lớn hơn các kỳ hạn dài - đây là một trong những chỉ số suy thoái đáng tin cậy trong 50 năm và gần như sắp có khả năng xảy ra.

Để có thể xác định được thời gian và cách thức mà cuộc suy thoái tiếp theo sẽ diễn ra như thế nào, Mark Holman – CEO của công ty quản lý tài sản TwentyFour cũng đề xuất theo dõi các khảo sát của Fed về hoạt động cho vay trong nền kinh tế, trong đó mô tả các điều kiện vay vốn hiện tại và các tiêu chuẩn để xác định các điều kiện thắt chặt hay nới lỏng tài khóa vào thời điểm nhất định.

Cuối cùng ông cũng dự đoán rằng khủng hoảng có thể xảy ra vào năm 2020 và các nhà đầu tư nên bắt đầu suy nghĩ về những ngày tháng sắp tới để bắt đầu điều chỉnh danh mục đầu tư của mình.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.375 23.495 25.924 26.730 29.473 29.945 208,21 216,93
BIDV 23.350 23.470 25.909 26.659 29.483 29.980 209,73 215,03
VietinBank 23.355 23.485 25.900 26.635 29.437 30.077 210,08 216,58
Agribank 23.345 23.440 25.887 26.283 29.465 29.948 209,50 213,28
Eximbank 23.295 23.470 25.925 26.282 29.595 30.003 210,71 213,61
ACB 23.370 23.470 25.917 26.273 29.653 29.984 210,82 213,71
Sacombank 23.322 23.477 25.934 26.392 29.628 30.037 209,96 214,53
Techcombank 23.355 23.495 25.678 26.539 29.256 30.137 209,43 216,66
LienVietPostBank 23.330 23.470 25.844 26.321 29.580 30.020 210,17 214,09
DongA Bank 23.370 23.460 25.960 26.260 29.600 29.970 207,30 213,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.220
36.410
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.220
36.390
Vàng SJC 5c
36.220
36.410
Vàng nhẫn 9999
36.240
36.640
Vàng nữ trang 9999
35.790
36.390