16:00 | 23/02/2018

Thay đổi tư duy về vốn

Thời gian tới các DN phải thay đổi tư duy về vốn theo nguyên tắc của thị trường. Thay vì chỉ tìm vốn tín dụng NH, các DN nên mở rộng tìm vốn từ TTCK hay thị trường trái phiếu.

Sẽ thấy một kỳ tích sông Hồng
Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký giảm mạnh, song vốn thực hiện tăng 10,5%
Tạo lực đẩy cho thị trường vốn 2018
TS. Vũ Đình Ánh

Theo tính toán của TS. Vũ Đình Ánh, quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán (TTCK) tăng lên 74% GDP trong năm 2017 vượt cả mục tiêu năm 2020. Sự phát triển của TTCK liệu có giảm được gánh nặng cho vốn tín dụng - kênh cấp vốn chủ lực cho nền kinh tế hay không?

Trả lời câu hỏi này, TS. Vũ Đình Ánh cho hay, chắc chắn gánh nặng này sẽ giảm khi khả năng đáp ứng vốn huy động vốn mới từ TTCK tốt hơn. Sự thay đổi này cần được phát huy để trả lại “chức năng” cho NH là chủ yếu chỉ cung ứng vốn ngắn hạn. Nên cũng không phải vô cớ người ta gọi TTCK là thị trường vốn. Thời gian tới các DN phải thay đổi tư duy về vốn theo nguyên tắc của thị trường. Thay vì chỉ tìm vốn tín dụng NH, các DN nên mở rộng tìm vốn từ TTCK hay thị trường trái phiếu.

Vấn đề phát triển thị trường TPDN được đề cập khá nhiều vì được coi là kênh quan trọng để huy động vốn trung, dài hạn cho DN. Nhưng vì sao thị trường này vẫn chưa phát triển như mong đợi?

Bởi vì đối với bản thân các DN họ cũng chưa thấy lợi ích gì nhiều từ việc phát hành TPDN. Khi cần vốn, nếu phải đi vay thì họ thấy vay NH vẫn đang thuận lợi. Còn một số DN có uy tín, làm ăn tốt họ phát hành cổ phiếu trên TTCK, NĐT tiếp cận dễ hơn, giúp DN huy động vốn nhanh hơn là phát hành trái phiếu với nhiều thủ tục và cũng kén khách hàng.

Nếu các DN lớn này có phát hành TP thì họ lại chỉ phát hành ở thị trường nước ngoài chứ không thực hiện ở thị trường trong nước nên chưa tạo ra tiền lệ cả đối với cơ quan quản lý và cả thói quen cho NĐT. Hơn nữa hiện nay trong danh mục các kênh đầu tư của các NĐT Việt Nam không có TPDN. Nếu có triển khai phát hành, NĐT sẽ rất khó để hình dung, đánh giá được sự hấp dẫn của TPDN. Do đó, sự phát triển thị trường TPDN ở Việt Nam còn hạn chế do chưa có thông tin cụ thể, đủ thuyết phục NĐT. Hiện tại, thị trường trái phiếu của Việt Nam vẫn tập trung chủ yếu là TPCP. Như vậy, có nghĩa là việc giảm áp lực cấp vốn trung, dài hạn đối với NH sẽ phải chờ đợi thêm một thời gian tương đối dài nữa.

Hiện tại đang có những đề xuất là NH tăng cường cho vay tín chấp, quản lý theo dòng tiền. Ông có đồng tình với quan điểm trên không?

Về nguyên tắc NH cho vay thì NH phải chịu rủi ro, không ai chịu hộ. NH đem tiền đầu tư ít nhất phải thu lại gốc. Tín chấp là cho vay dựa trên uy tín và như vậy chỉ có DN uy tín, năng lực tốt mới có thể vay tín chấp chứ không phải tất cả các DN đều áp dụng cơ chế này. Nhất là DN mới ra đời chưa có gì đảm bảo uy tín để NH cho vay tín chấp.

Trong cho vay tín chấp có một vấn đề rất rủi ro khách quan đó là chu kỳ kinh tế, dù DN rất lớn nhưng nếu rơi vào thời điểm chu kỳ kinh tế đi xuống thì khó nói trước được điều gì. Do đó, dù cho vay tín chấp thì NH cũng phải thẩm định rất chặt chẽ, phải xếp hạng tín nhiệm DN qua nhiều thông tin khác nhau nhưng thực tế là cũng không thể loại trừ hết rủi ro. Vì rủi ro lại chia ra hai loại: rủi ro kiểm soát được và rủi ro không kiểm soát được hay còn gọi là rủi ro bất ngờ. Đối với rủi ro bất ngờ thì NH khó có thể kiểm soát được nên không khó hiểu vì sao các NH rất ngại cho vay tín chấp.

Theo ông, cách nào hạn chế rủi ro trong cho vay tín chấp?

Để hạn chế được rủi ro mà cho vay tín chấp có thể xảy ra, tôi cho rằng, bên cạnh thẩm định chặt chẽ, quan trọng nhất là trình độ, tầm nhìn của NH nhất là cán bộ tín dụng. Bởi khi cho vay tín chấp NH phải đánh giá, dự tính những khả năng có thể xảy ra trong tương lai; phân tích được biến động mang tính chu kỳ để có thể chủ động xử lý các tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Đó mới là điều quan trọng.

Tôi đơn cử, khi phân tích khoản vay của khách hàng đang là nợ xấu nhưng lý do dẫn đến tình trạng này phần nhiều do khách quan. Cách giải quyết của NH theo tôi thay vì ép DN phải ép bán hết tài sản thế chấp ngay thời điểm đó để trả nợ, NH có thể gia hạn nợ để tạo điều kiện cho DN có thời gian tự tái cơ cấu, hồi phục kinh doanh dần dần trả nợ. Thực tế, có những vụ việc khách hàng làm ăn tốt, nhưng rơi đúng chu kỳ kinh tế khủng hoảng nên kinh doanh khó khăn. DN lao đao, phải bán tài sản thế chấp giá rẻ nhưng vẫn không đủ trả nợ. Nhưng sau khi kinh tế hồi phục trở lại, số tài sản thế chấp đó nếu bán đi còn cao gấp nhiều lần số tiền mà DN nợ NH.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.270 23.360 26.162 26.632 28.986 29.450 199,33 206,37
BIDV 23.260 23.350 26.154 26.480 28.996 29.455 20320 206,41
VietinBank 23.263 23.363 26.128 26.633 28.952 29.512 202,97 206,72
Agribank 23.250 23.345 26.131 26.483 29.001 29.439 20307 206,37
Eximbank 23.260 23.360 26.148 26.497 29.092 29.481 203,92 206,65
ACB 23.270 23.350 26.172 26.509 29.185 29.487 203,90 206,53
Sacombank 23.276 23.368 26.213 26.468 29.172 29.534 203,93 206,96
Techcombank 23.245 23.360 25.912 26.633 28.769 29.596 202,46 207,74
LienVietPostBank 23.240 23.340 26.078 26.535 29.106 29.516 20335 20705
DongA Bank 23.260 23.340 26.270 26.590 29.390 29.570 202,20 206,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.230
36.390
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.230
36.370
Vàng SJC 5c
36.230
36.390
Vàng nhẫn 9999
35.230
35.630
Vàng nữ trang 9999
34.888
35.580