15:18 | 13/09/2018

Thêm chỉ báo để Fed cẩn trọng với việc tăng lãi suất tháng 12

Ba trong số 12 Cục dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) khu vực, bao gồm Fed tại St. Louis, Philadelphia và Kansas City báo cáo tăng trưởng kinh tế yếu hơn trong tháng 8 vừa qua.

Các cảng dọc Bờ Đông nước Mỹ vẫn đang hoạt động tốt và cho rằng căng thẳng thương mại có thể có độ trễ đối với hoạt động của họ.

Thông tin trên được ghi nhận tại Bản Tóm lược tình hình kinh tế Mỹ của Fed, với tên gọi quen thuộc Beige Book, vừa được công bố hôm thứ Tư tuần này.

Theo Beige Book, trong khi nền kinh tế Mỹ tăng trưởng với “tốc độ vừa phải”, mối quan ngại về triển vọng thương mại và tình trạng thiếu nhân công khiến các dự án đang bị trì hoãn. Ngoài ra còn có "một số dấu hiệu giảm tốc" giá hàng hóa và dịch vụ cuối cùng.

Trên thực tế, đang có một sự gia tăng quan ngại trong giới thương gia về tình trạng thiếu hụt nhân công để tuyển dụng thêm và khả năng căng thẳng thuế quan leo thang.

Sự thiếu hụt lao động diễn ra ở mọi cấp độ nhân lực, từ lao động kỹ năng cao cho đến các ngành có tay nghề thấp hơn, gồm cả trong các lĩnh vực nhà hàng và phân phối bán lẻ. Dù vậy, tăng trưởng tiền lương vẫn chỉ ở mức “khiêm tốn đến trung bình”, khi các công ty cố gắng thu hút lao động bằng phúc lợi, báo cáo cho biết.

Quan ngại về triển vọng thương mại thay đổi trong mùa Hè vừa qua, giờ đây chuyển thành các quyết định “tái cơ cấu sản xuất hoặc trì hoãn giải ngân đầu tư”.

Trong khi đó, các doanh chủ đang cố gắng chuyển mức tăng của chi phí đầu vào đến giá bán cho khách hàng, dù rằng chi phí đầu vào của họ vẫn tăng nhanh hơn điều chỉnh giá bán. Một vài bang cho biết kỳ vọng lạm phát đang gia tăng.

Các đầu mối thương mại tại các cảng dọc bờ Đông nước Mỹ cho biết nhận thấy bất kỳ ảnh hưởng nào từ cuộc chiến thuế quan, nhưng cho biết họ lo ngại rằng có độ trễ để tác động thể hiện trên thực tế, hoặc do các lô hàng hiện tại đã thực hiện từ trước khi các quy định thuế quan tác động.

Ở Atlanta, một số doanh chủ cho biết họ không thể trả lương cao hơn như các lao động có kinh nghiệm lâu năm đòi hỏi, và buộc phải chuẩn bị tinh thần cho việc các lao động này ra đi mà không có khả năng tìm người thay thế.

Sự thiếu hụt nhân lực trong các nhà hàng đang là vấn đề tại Cape Cod, Atlanta. Trong khi xây dựng nhà mới giảm khiến các nhà công nghiệp gỗ xẻ ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương buộc phải giảm giá sản phẩm. Giá dầu thô trung bình tại West Texas duy trì mức cao khoảng 60 USD/thùng, nhưng một số nhà sản xuất ở Dallas chịu giảm giá 10 - 17 USD do đường ống vận chuyển đã quá công suất giới hạn.

Bức tranh kinh tế Mỹ không tô vẽ quá nhiều nguy cơ, nhưng cũng không ở trạng thái đang hừng hực phát triển. Các quan chức hàng đầu của Fed, mà đứng đầu là Chủ tịch Fed Jerome Powell, dường như bám chặt và quan điểm sẽ tăng lãi suất chuẩn ngắn hạn trong cuộc họp chính sách tiếp theo vào ngày 25-26/9.

Chỉ một vài quan chức khác đã kêu gọi các đồng nghiệp của họ giữ mức thắt chặt chính sách như hiện tại lâu hơn nữa.

Chẳng hạn, Chủ tịch Fed St. Louis, James Bullard, hôm thứ Tư vừa qua đã thẳng thắn nêu, những người khẳng khăng với chính sách lãi suất hiện tại của Fed không chú ý đầy đủ đến những gì mà thị trường trái phiếu và thị trường chứng khoán đang muốn nói với họ.

Tuy nhiên, với tỷ lệ thất nghiệp thấp và lạm phát gần mục tiêu 2%, hầu hết các nhà kinh tế đều dự cảm Fed sẽ tiếp tục gắn bó với chính sách tăng dần lãi suất và duy trì cho đến tận giữa năm sau.

“Báo cáo cho thấy, một cách ngầm ý, không có nhu cầu bức thiết để Fed phải hãm phanh (tiến trình tăng lãi suất - PV),” Scott Brown, kinh tế gia trưởng của Raymond James nói.

Tuy nhiên, nếu các báo cáo về sự yếu kém hiện tại của một số khu vực trên nước Mỹ tiếp tục nhân lên, dự báo Fed sẽ dựng việc nâng lãi suất chuẩn vào tháng 12 năm nay sẽ có thể hiện thực.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,70
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,20
4,60
5,30
5,50
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.290 23.370 27.276 27.613 30.596 31.100 204,12 210,64
BIDV 23.290 23.370 27.278 27.607 30.620 31.090 204,92 208,35
VietinBank 23.285 23.375 27.237 27.615 30.574 31.134 204,90 208,30
Agribank 23.255 23.345 27.011 27.347 30.315 30.753 205,20 208,45
Eximbank 23.280 23.380 27.272 27.636 30.712 31.122 205,65 208,41
ACB 23.300 23.380 27.294 27.646 30.820 31.139 205,56 208,30
Sacombank 23.295 23.387 27.329 27.686 30.802 31.166 205,87 208,94
Techcombank 23.260 23.380 27.013 27.759 30.370 31.233 204,37 209,76
LienVietPostBank 23.260 23.360 27.213 27.680 30.743 31.166 205,14 208,81
DongA Bank 23.300 23.380 27.300 27.620 30.740 31.110 204,50 208,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.520
36.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.520
36.670
Vàng SJC 5c
36.550
36.720
Vàng nhẫn 9999
34.350
34.750
Vàng nữ trang 9999
33.900
34.700