16:39 | 09/08/2018

Thị trường chứng khoán nửa cuối 2018: Cơ hội có đủ lớn?

Các nhà đầu tư sẽ có cái nhìn sáng tỏ về triển vọng thị trường chứng khoán thông qua những phân tích thấu đáo về cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, ứng xử của Fed, diễn biến giá dầu thế giới; Biến động tỷ giá, lạm phát, lãi suất... tại thị trường Việt Nam.

Chứng khoán phái sinh: Bước khởi đầu suôn sẻ
Thị trường chứng khoán Việt Nam: Sẽ minh bạch hơn
Nền tảng cho sóng tăng điểm tháng 9

Sau quý đầu năm tăng nhanh nhất thế giới, thị trường chứng khoán Việt Nam quý II lại có mức giảm mạnh nhất với mức giảm gần 20%. Cùng thời gian này, chứng khoán thế giới cũng lao dốc với lý do được nói tới nhiều nhất là nỗi lo về sự leo thang của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung sẽ kéo theo rất nhiều hệ lụy và bất ổn cho kinh tế toàn cầu.

Những căng thẳng thương mại Mỹ - Trung, sự bất ổn của kinh tế toàn cầu chắc chắn sẽ tác động tới nền kinh tế và thị trường tài chính Việt Nam. Niềm tin của nhà đầu tư một lần nữa lại bị thử thách không nhỏ...

Để giúp các nhà đầu tư có cái nhìn tổng thể về tăng trưởng kinh tế toàn cầu, nhận diện được những cơn sóng ngầm và tác động của nó lên thị trường tài chính, chứng khoán, Maybank Kim Eng sẽ tổ chức hội thảo “Thị trường chứng khoán nửa cuối 2018: Cơ hội có đủ lớn?” vào ngày 17/8/2018, tại Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh. Thông qua, hội thảo các nhà đầu tư có thể chủ động lên kế hoạch phòng thủ và sẵn sàng nắm bắt cơ hội trên thị trường chứng khoán.

Trước vấn đề này, chuyên gia kinh tế, ông Chua Hak Bin, Kinh tế gia trưởng của Tập đoàn Maybank Kim Eng, Tiến sĩ Kinh tế Đại học Harvard - người đã có nhiều năm kinh nghiệm làm việc tại Ngân hàng Trung ương Singapore (MAS) và các định chế tài chính danh tiếng thế giới bao gồm: Bank of America Merrill Lynch, Citigroup, Deutsche Bank, DBS Bank and RHB Bank... sẽ đến Việt Nam để cùng nhà đầu tư tìm câu trả lời cho tất cả các câu hỏi thú vị và đầy thách thức tại hội thảo lần này.

Với kiến thức và bề dày kinh nghiệm thực tế, phần trình bày của Tiến sỹ Chua Hak Bin cùng với các chuyên viên Phòng Nghiên cứu phân tích, Maybank Kim Eng Việt Nam sẽ phần nào giúp làm sáng tỏ bức tranh về triển vọng thị trường chứng khoán thông qua những phân tích thấu đáo về cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, ứng xử của Fed, diễn biến giá dầu thế giới; và những ảnh hưởng tới thị trường Việt Nam...

Nguồn :

Các bài mới:

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,70
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.265 23.345 26.319 26.633 29.294 29.763 205,97 212,43
BIDV 23.260 23.340 26.320 26.635 29.307 29.758 207,93 211,08
VietinBank 23.233 23.323 26.252 26.630 29.230 29.790 207,71 211,11
Agribank 23.265 23.350 26.299 26.631 29.330 29.760 207,86 211,65
Eximbank 23.240 23.340 26.305 26.657 29.398 29.790 208,52 211,32
ACB 23.260 23.340 26.322 26.661 29.497 29.802 208,59 211,28
Sacombank 23.270 23.362 26.370 26.724 29.491 29.858 208,69 211,78
Techcombank 23.250 23.350 26.098 26.856 29.111 29.925 207,24 212,59
LienVietPostBank 23.250 23.350 26.238 26.700 29.440 29.849 208,17 211,87
DongA Bank 23.305 23.350 26.340 26.640 29.410 29.770 207,20 211,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.550
36.750
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.550
36.730
Vàng SJC 5c
36.550
36.750
Vàng nhẫn 9999
34.250
34.650
Vàng nữ trang 9999
33.800
34.600