16:00 | 01/06/2018

Thị trường ô tô: Triển vọng dài hạn vẫn sáng

Dư địa để tăng trưởng tiêu thụ ô tô tại Việt Nam vẫn còn rất lớn

Lexus RX 350L 2018 có giá gần 4,9 tỷ đồng
Công nghiệp hỗ trợ ngành Ô tô: Tìm câu trả lời cho bài toán khó
Cơ hội trải nghiệm với dịch vụ kinh doanh xe cũ của Jaguar Land Rover Việt Nam

Sau nhiều năm liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng 2 con số, năm 2017, Việt Nam chỉ tiêu thụ 272.747 chiếc ô tô, giảm 11% so với cùng kỳ năm 2016 và thấp hơn nhiều so với kỳ vọng 335.000 chiếc. Tuy nhiên, đó chưa phải là tình hình “bi đát” nhất của thị trường.

Sang năm 2018, mặc dù thuế nhập khẩu ô tô theo ATIGA (Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN) được điều chỉnh, áp dụng mức 0% khi nhập khẩu từ các nước ASEAN, nhưng doanh số bán hàng quý I/2018 chỉ đạt 59.558 chiếc, tiếp tục giảm 8% so với cùng kỳ năm 2017 và giảm 20,1% so với quý IV/2017.

Áp thuế hạn chế nhập khẩu ô tô cũ; quy định siết chặt điều kiện sản xuất nhập khẩu và kinh doanh ô tô… là các động thái chính sách đáng kể nhất của cơ quan quản lý, tác động mạnh đến thị trường và DN ô tô trong thời gian vừa qua, được đánh giá là nguyên nhân chính dẫn đến việc kinh doanh chậm lại của ngành này. Tuy nhiên, các phân tích đều chỉ ra rằng đó chỉ là khó khăn tạm thời của thị trường và triển vọng phát triển ngành ô tô trong trung và dài hạn vẫn rất sáng sủa.

Nền tảng cho nhận định nêu trên, theo các chuyên gia, thực tế thị trường ô tô Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển. Mặc dù quy mô nền kinh tế còn nhỏ, hiện GDP mới khoảng trên 5 triệu tỷ đồng (khoảng 220 tỷ USD), tính theo năm 2017, nhưng đang tăng nhanh với tốc độ tăng trưởng ghi nhận ở nhóm cao trên thế giới. Đặc biệt 3 năm gần đây, từ 2015 đến 2017, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam luôn cao hơn trung bình 10 năm 2008-2017 của chính mình.

Tương ứng, thu nhập bình quân đầu người hiện mới chỉ đạt 2.385 USD (năm 2017), nhưng đã tăng gần gấp đôi kể từ năm 2010. Đồng thời, nhóm “người giàu mới” (thu nhập trên 1.000 USD/tháng) đang ngày càng đông, hiện tăng trưởng khoảng 15% mỗi năm và dự kiến sẽ đạt 45 triệu người vào năm 2025. Cùng với đà khởi sắc của kinh tế và cải thiện thu nhập nêu trên, chỉ tính riêng giai đoạn từ 2013 đến quý I/2018, Việt Nam đã tiêu thụ được 1.149.522 chiếc xe các loại.

Tuy nhiên, dư địa để tăng trưởng tiêu thụ ô tô tại Việt Nam vẫn còn rất lớn. Hiện trên phạm vi cả nước mới lưu hành khoảng 2.865.202 chiếc ô tô, tỷ lệ sở hữu ô tô bình quân đạt 30 chiếc/1.000 người dân. Nếu chỉ tính riêng tỷ lệ sở hữu bình quân với xe dưới 9 chỗ thì mới đạt con số 16, trong khi tại Indonesia là 55, Thái Lan 196 và Malaysia lên tới 341… Từ con số trên, các chuyên gia đều dự báo thị trường ô tô Việt Nam sẽ tăng trưởng mạnh trở lại trong trung và dài hạn, sớm nhất là ngay từ nửa cuối 2018. Lý do một phần vì tâm lý chờ đợi của người tiêu dùng đã quá lâu và triển vọng kinh tế vẫn sáng sủa.

Đón cơ hội trên và trước các chính sách siết chặt của cơ quan quản lý, thị trường đã có những điều chỉnh rất nhanh, như các nhà nhập khẩu dần đáp ứng các yêu cầu, quy định, khiến các vướng mắc dần được tháo gỡ. Trong các tháng 3 và 4/2018, hoạt động nhập khẩu và tiêu thụ ô tô đã có dấu hiệu phục hồi. Theo đó, số liệu bán hàng của toàn thị trường trong tháng 4 đạt 21.123 xe, đưa tổng số xe bán trong 4 tháng đầu năm nay đạt 80.681 xe các loại, chỉ còn giảm 7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, đáng chú ý là số liệu bán xe du lịch tăng 2% và xe thương mại chỉ còn giảm 18%, xe chuyên dụng giảm 36%.

Đồng thời với đó, một lộ trình thích ứng dài hạn đang bắt đầu hình thành, nghiêng từ phụ thuộc nhập khẩu và lắp ráp sang phía sản xuất trong nước. Chẳng hạn như trong 4 tháng đầu năm nay, doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước tăng 8% (số liệu quý I/2018), trong khi xe nhập khẩu giảm 47-48% so với cùng kỳ năm ngoái. Hiện tại, tiêu thụ xe sản xuất trong nước chiếm tỷ lệ khoảng 84% tổng lượng tiêu thụ toàn thị trường (quý I/2018 tiêu thụ xe lắp ráp trong nước đạt 50.049/59.558 chiếc), tăng khá cao so với tỷ lệ khoảng 70% cách đây 5 năm.

Các con số trên cho thấy DN ô tô trong nước đang dành ưu thế trên thị trường, sau khi có những điều chỉnh tích cực hướng đến tăng cường lắp ráp và sản xuất trong nước. Trong đó, một số động thái đáng chú ý là: Hyundai Thành Công dừng nhập khẩu để mở rộng sản xuất lắp ráp xe du lịch công suất 40.000 xe/năm. THACO Trường Hải sản xuất, lắp ráp xe mang thương hiệu Mazda công suất 100.000 xe/năm. Ford Việt Nam ra mắt mẫu xe Ford Ecosport phiên bản 2018, đẩy mạnh lắp ráp mẫu tại Việt Nam. Mishubishi nghiên cứu kế hoạch đầu tư nhà máy sản xuất ô tô thứ hai quy mô 250 triệu USD với công suất 50.000 xe/năm. Vinfast đầu tư 3,5 tỷ USD xây dựng cơ sở có công suất 250.000 xe/năm tại Hải Phòng để sản xuất ô tô thương hiệu Việt với các dòng xe Sedan, SUV…

Các chuyển động trên đang hứa hẹn tạo thêm cơ hội việc làm cho người lao động, phát triển công nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô, qua đó phát triển kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam không phải đã hết thách thức. Hiện tại, chính sách thuế và phí khá cao đã đẩy giá ô tô Việt Nam cao gấp đôi Mỹ, Đức, Australia và cao gấp rưỡi các nước trong khu vực. Ngay cả khi thuế nhập khẩu ô tô giảm theo ATIGA và thị trường nhập khẩu ô tô chuyển dịch mạnh sang các nước trong khu vực ASEAN thì giá xe vẫn còn ở mức rất cao, hạn chế khả năng tiếp cận của nhiều người dân.

Trong khi đó, tỷ lệ nội địa hóa thấp, trung bình chỉ đạt khoảng 15-18%. Tỷ lệ DN phụ trợ so với DN sản xuất, lắp ráp chưa cân xứng. Linh kiện nhập khẩu là chủ yếu. Vì vậy, nhiều chuyên gia cho rằng để cạnh tranh thì các DN ô tô Việt cần tăng cường tỷ lệ nội địa hóa, đầu tư cho công nghiệp phụ trợ… Điều này cũng phù hợp với định hướng của Chính phủ hiện nay.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,70
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.300 26.589 26.907 29.484 29.956 207,30 213,80
BIDV 23.230 23.310 26.552 26.872 29.474 29.923 209,44 212,65
VietinBank 23.200 23.290 26.523 26.901 29.426 29.986 208,98 212,38
Agribank 23.235 23.315 26.618 26.948 29.528 29.959 209,54 213,57
Eximbank 23.200 23.300 26.564 26.920 29.582 29.978 209,89 212,70
ACB 23.230 23.310 26.614 26.957 29.700 30.007 209,84 212,54
Sacombank 23.221 23.314 26.635 26.998 29.671 30.038 210,06 213,14
Techcombank 23.210 23.310 26.359 27.071 29.284 30.100 208,75 214,17
LienVietPostBank 23.210 23.310 25.560 27.022 29.624 30.041 209,86 213,58
DongA Bank 23.230 23.310 26.620 26.940 29.610 29.980 208,60 212,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.600
36.800
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.600
36.780
Vàng SJC 5c
36.600
36.800
Vàng nhẫn 9999
34.350
34.750
Vàng nữ trang 9999
33.900
34.700