15:00 | 09/10/2019

Thị trường TPCP: Kênh huy động vốn hiệu quả cho NSNN

Qua 10 năm, lãi suất huy động vốn trên thị trường TPCP đã giảm đáng kể, giúp tiết kiệm cho NSNN hàng nghìn tỷ đồng tiền trả lãi và hỗ trợ tích cực trong điều tiết kinh tế vĩ mô...

Thị trường trái phiếu tháng 9: Huy động hơn 9,6 nghìn tỷ đồng qua đấu thầu
Phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ giúp tiết kiệm ngân sách hàng nghìn tỷ đồng
Thị trường TPCP sắp tới sẽ gặt hái nhiều thành tựu hơn nữa khẳng định vị thế không thể thiếu của nền kinh tế

Ông Nguyễn Như Quỳnh - thành viên HĐQT kiêm Phó tổng giám đốc phụ trách Ban điều hành Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội cho biết, trải qua quá trình 10 năm hoạt động thị trường trái phiếu Chính phủ (TPCP) đã có bước phát triển ấn tượng về quy mô và độ sâu, khẳng định vai trò quan trọng là kênh huy động vốn hiệu quả cho NSNN, đóng góp không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế của đất nước.

Trên thị trường sơ cấp, trong vòng 10 năm, hơn 1,8 triệu tỷ đồng vốn đã được huy động cho NSNN để phục vụ cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế đất nước. Con số này tương ứng với mức huy động bình quân năm đạt hơn 180 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,6% tổng vốn đầu tư của toàn xã hội năm 2018; 31% tổng vốn đầu tư của khu vực Nhà nước năm 2018. Để huy động được lượng vốn hơn 1,8 triệu tỷ đồng này, đã có 1.872 phiên đấu thầu được tổ chức với tỷ lệ huy động thành công bình quân đạt 60-70% trên tổng khối lượng gọi thầu.

Qua 10 năm, lãi suất huy động vốn trên thị trường TPCP đã giảm đáng kể, giúp tiết kiệm cho NSNN hàng nghìn tỷ đồng tiền trả lãi và hỗ trợ tích cực trong điều tiết kinh tế vĩ mô. Lãi suất huy động vốn trung bình đã giảm từ 4 đến 6%/năm trên tất cả các kỳ hạn. Trong đó, đặc biệt giảm mạnh tại các kỳ hạn 5 năm (giảm từ 10,49%/năm trong 2009 xuống còn 3,55%/năm trong 2019; kỳ hạn 10 năm (giảm từ mức 9,7%/năm trong 2009 xuống còn 4,35%/năm trong 2019).

Ngược chiều giảm lãi suất, kỳ hạn của các trái phiếu ngày càng tăng. Đến nay, Kho bạc Nhà nước đã phát hành thành công các TPCP 30 năm. Nhờ sự đa dạng kỳ hạn, NĐT có nhiều lựa chọn hơn trên thị trường này và ở góc độ quản lý điều này cũng giúp giảm áp lực trả nợ trong thời gian ngắn và làm tăng hiệu quả cho đầu tư phát triển của toàn xã hội.

Nếu như năm 2009, TPCP phát hành chỉ có 4 kỳ hạn 2, 3, 5 và dài nhất là 10 năm trong đó kỳ hạn 5 năm trở lên chỉ chiếm 15% tổng khối lượng phát hành thì đến 2019 đã có thêm các kỳ hạn dài 15 năm, 20 năm và 30 năm, trong đó kỳ hạn dài từ 10 năm trở lên đã chiếm đến 90% tổng khối lượng phát hành.

Với khung khổ pháp lý thị trường ngày càng được hoàn thiện, thị trường TPCP liên tục được bổ sung các sản phẩm trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp đáp ứng cơ bản nhu cầu đầu tư đa dạng của thị trường. Thanh khoản trái phiếu năm 2019 đạt mức hơn 9 nghìn tỷ đồng/phiên, gấp gần 24 lần so với năm 2009. Giá trị giao dịch Repos theo đó cũng tăng trưởng mạnh mẽ từ quy mô khiêm tốn với tỷ trọng 6,5% trên tổng giá trị giao dịch năm 2009 lên mức 55% tổng giá trị giao dịch toàn thị trường năm 2019.

Song hành với sự phát triển của thị trường, hạ tầng công nghệ phục vụ thị trường như hệ thống đấu thầu, hệ thống giao dịch cũng liên tục được HNX đầu tư. Hệ thống đấu thầu điện tử trực tuyến (E.ABS), hệ thống giao dịch từ xa, hệ thống giao dịch trực tuyến TPCP (E-BTS) trên nền internet đã đáp ứng nhu cầu tiếp cận thông tin và giao dịch ngày càng hiện đại của các thành viên thị trường và NĐT, giúp họ ra quyết định đầu tư hiệu quả hơn, tiết kiệm đáng kể chi phí và thời gian giao dịch.

Bên cạnh đó, hệ thống chỉ báo thị trường TPCP cũng được chú trọng phát triển. Khởi đầu với đường cong lợi suất ra mắt tháng 3/2013, tháng 1/2015, bộ chỉ số trái phiếu (Bond indices) với nhiều kỳ hạn khác nhau tiếp tục được đưa vào sử dụng.

Đến nay, 2 hệ thống chỉ báo này đều phát huy vai trò tích cực trong việc định lãi suất tham chiếu và định giá trái phiếu, giúp cho NĐT và thành viên thị trường thuận lợi hơn trong việc giao dịch trái phiếu trên thị trường. Hai hãng thông tin quốc tế Bloomberg và Reuters đều đã cung cấp thông tin về hệ thống chỉ báo này dưới tên gọi “VN Bond Yield Curve” và “VN Bond Index” cho các NĐT quốc tế.

“10 năm chưa phải là chặng đường dài song những gì thị trường TPCP đạt được vô cùng ấn tượng trong mắt công chúng đầu tư Việt Nam và quốc tế. Liên tục trong các năm 2013, 2014, 2018, 2019 thị trường TPCP Việt Nam được Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá là một trong các thị trường có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất khu vực Đông Á. Với những kết quả đạt được, chúng ta hoàn toàn có quyền kỳ vọng thị trường TPCP trên chặng đường sắp tới sẽ còn gặt hái nhiều thành tựu hơn nữa, phát triển hơn nữa, xứng tầm với tiềm năng và khẳng định vị thế, vai trò của định chế tài chính không thể thiếu của nền kinh tế”, ông Quỳnh nhấn mạnh.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.472 26.346 29.403 29.904 205,46 219,78
BIDV 23.145 23.265 25.550 26.305 29.497 30.058 210,52 214,35
VietinBank 23.132 23.262 25.475 26.310 29.373 30.013 210,35 216,35
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.497 25.849 29.521 29.930 211,71 214,65
ACB 23.130 23.255 25.502 25.841 29.590 29.909 211,60 214,42
Sacombank 23.108 23.268 25.517 25.974 29.571 29.974 210,87 215,41
Techcombank 23.140 23.280 25.263 26.257 29.193 30.110 210,19 217,35
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.427 25.886 29.542 29.967 211,19 215,03
DongA Bank 23.160 23.250 25.520 25.840 29.530 29.920 208,30 214,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.470
41.760
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.470
41.740
Vàng SJC 5c
41.470
41.760
Vàng nhẫn 9999
41.460
41.910
Vàng nữ trang 9999
40.940
41.740