10:00 | 19/06/2019

Thị trường trái phiếu khu vực Đông Á mới nổi tiếp tục mở rộng

Các thị trường trái phiếu bằng đồng nội tệ của khu vực Đông Á mới nổi tiếp tục mở rộng trong quý đầu tiên của năm 2019, bất chấp những xung đột thương mại và tăng trưởng toàn cầu đang chậm lại, theo ấn bản mới nhất của báo cáo Giám sát trái phiếu châu Á của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB).

Báo cáo hằng quý này cũng nhận định rằng trái phiếu nhà ở và trái phiếu xanh là những lĩnh vực có tiềm năng tăng trưởng trong tương lai.

“Các thị trường trái phiếu của khu vực đang giữ vững đà tăng, song những rủi ro vẫn tiềm ẩn bất lợi”. Chuyên gia Kinh tế trưởng của ADB, ông Yasuyuki Sawada, nhận định. “Điều đó có nghĩa là chúng tôi nhận thấy tiềm năng trong việc phát triển trái phiếu nhà ở để tài trợ cho nhu cầu nhà ở đang gia tăng khi các vùng quê chuyển sang đô thị hóa, cũng như trái phiếu xanh để tài trợ cho các dự án về năng lượng sạch và các dự án thân thiện với khí hậu khác”.

Tính tới cuối tháng 3/2019, đã có 15 nghìn tỉ USD trái phiếu bằng đồng nội tệ đang lưu hành trên thị trường Đông Á mới nổi, cao hơn 2,9% so với cuối năm 2018 và nhiều hơn 14% so với thời điểm cuối tháng 3 năm 2018.

Trong khi đó, giá trị trái phiếu phát hành trong khu vực đã tăng lên tới 1,4 nghìn tỉ USD trong quý I/2019, cao hơn 10% so với quý cuối cùng của năm 2018 trong bối cảnh việc phát hành các công cụ nợ mạnh hơn.

Khu vực Đông Á mới nổi bao gồm Trung Quốc; Hồng Kông, Trung Quốc; Indonesia; Hàn Quốc; Malaysia; Philippines; Singapore; Thái Lan và Việt Nam.

Các nhà đầu tư nước ngoài đã rất lạc quan với Trung Quốc trong quý I/2019 nhờ tăng trưởng kinh tế tốt hơn kỳ vọng. Indonesia cũng thu hút được đầu tư trực tiếp nước ngoài cao hơn, song tỉ lệ nắm giữ của khối ngoại tại Philippines giảm mạnh khi các nhà đầu tư thu hồi lợi nhuận. Sự không chắc chắn về kết quả tổng tuyển cử đã thúc đẩy cách tiếp cận chờ đợi và nghe ngóng của các nhà đầu tư nước ngoài tại Thái Lan.

Trái phiếu chính phủ chiếm 61,7% trong tổng giá trị 9,3 nghìn tỉ USD của thị trường trái phiếu bằng đồng nội tệ của Đông Á mới nổi tính tới cuối tháng 3/2019, tăng 14% so với thời điểm cuối tháng 3/2018. Trong khi đó, trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành là 5,8 nghìn tỉ USD, cao hơn 14,2% so với một năm trước.

Trung Quốc vẫn là thị trường trái phiếu lớn nhất xét về quy mô tại khu vực Đông Á mới nổi, chiếm tới 75,3% tổng trái phiếu đang lưu hành của khu vực. Malaysia là thị trường lớn nhất của trái phiếu Hồi giáo; còn Hàn Quốc có tỷ lệ trái phiếu trên tổng sản phẩm quốc nội cao nhất trong quý đầu tiên của năm nay, lên tới 125,6%.

Trong một chương đặc biệt, báo cáo ghi nhận rằng việc phát triển thị trường trái phiếu nhà ở sẽ làm tăng khả năng tiếp cận các khoản cho vay mua nhà tại thời điểm nhu cầu đang gia tăng và đa dạng hóa nguồn tài chính cho nhà ở, vốn trước đây được cung cấp bởi các ngân hàng thương mại. Việc cung cấp nguồn tài chính cho nhà ở có thể sẽ giảm rủi ro mất cân đối về kỳ hạn giữa việc các chủ sở hữu nhà thường vay dài hạn với việc cho vay ngắn hạn của các ngân hàng.

Báo cáo nhận định rằng việc phát triển thị trường trái phiếu nhà ở có thể giúp các quốc gia huy động vốn để xây thêm nhiều đơn vị nhà ở, đáp ứng nhu cầu về nhà ở đang gia tăng trong khi cũng đóng góp vào tăng trưởng và phát triển thông qua tạo việc làm.

Đồng thời, sự tiếp tục phát triển của thị trường trái phiếu xanh châu Á đang giúp khu vực tài trợ cho những dự án giảm thiểu và thích nghi biến đổi khí hậu. Ví dụ, trong tháng 2, một khoản vay cao cấp có bảo đảm từ Quỹ Tài trợ cảnh quan nhiệt đới của Indonesia đã tài trợ cho một đồn điền cao su thiên nhiên. Trong khi vào tháng 5, Tổng công ty Tài nguyên nước Hàn Quốc đã bán trái phiếu nước đầu tiên của châu Á để tài trợ cho các hệ thống quản lý nước bền vững.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.260 25.903 26.761 28.708 29.168 207,73 215,91
BIDV 23.140 23.260 25.886 26.631 28.688 29.173 212,15 217,57
VietinBank 23.130 23.260 25.887 26.682 28.637 29.277 212,36 218,86
Agribank 23.145 23.250 25.890 26.286 28.710 29.185 212,32 216,19
Eximbank 23.140 23.250 25.916 26.274 28.806 29.204 213,25 216,20
ACB 23.130 23.250 25.917 26.274 28.875 29.199 213,18 216,12
Sacombank 23.100 23.250 25.912 26.317 28.826 29.228 212,26 216,81
Techcombank 23.120 23.260 25.656 26.516 28.457 29.326 211,63 218,93
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.849 26.328 28.830 29.260 212,79 216,73
DongA Bank 23.160 23.240 25.940 26.260 28.810 29.180 209,90 215,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
39.200
39.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
39.200
39.450
Vàng SJC 5c
39.200
39.470
Vàng nhẫn 9999
39.080
39.580
Vàng nữ trang 9999
38.780
39.580