14:00 | 21/08/2019

Thủ công mỹ nghệ xuất khẩu: Mẫu mã góp phần quyết định giá trị sản phẩm

Để cạnh tranh trên thị trường buộc các DN, làng nghề phải có những đổi mới, kết hợp sự đa dạng mẫu mã phù hợp thị hiếu người tiêu dùng mà vẫn giữ được bản sắc, giá trị truyền thống của sản phẩm.

Theo các chuyên gia, hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) của Việt Nam được nhiều thị trường trên thế giới ưa chuộng. Tuy nhiên, các DN Việt lại chưa tận dụng được lợi thế và còn chậm cải tiến mẫu mã theo kịp thị hiếu người tiêu dùng nên khó cạnh tranh với sản phẩm các nước khác. Do đó, để tăng cường giá trị hàng Việt, không chỉ các DN mà các làng nghề, nghệ nhân phải thay đổi, đầu tư mạnh cho khâu thiết kế mẫu mã để nâng cao khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu.

Hàng TCMN Việt Nam vẫn còn yếu về thương hiệu

Việt Nam được đánh giá là có thế mạnh về những sản phẩm làng nghề truyền thống, đặc biệt là hàng TCMN. Những năm gần đây, hàng TCMN xuất khẩu của Việt Nam liên tục có mức tăng trưởng khá và mở rộng ra nhiều thị trường trên thế giới. Theo thống kê từ Tổng cục Hải quan, 7 tháng đầu năm 2019, kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN của Việt Nam bao gồm các mặt hàng túi xách, ví, vali, mũ, ô dù tăng 10,6% (tăng 206 triệu USD). Mặt hàng đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận tăng 6,5% (tăng trên 50 triệu USD). Mặt hàng gốm, sứ tăng 4,6% (tăng trên 13 triệu USD) và mặt hàng mây tre cói thảm tăng 39,9% (tăng 76 triệu USD). Trong đó, thị trường xuất khẩu hàng thủ công của Việt Nam tập trung chủ yếu vào Mỹ (chiếm trên 1/3), thị trường EU (chiếm trên 1/5), Nhật Bản (chiếm trên 1/10), còn lại là Trung Quốc, Hàn Quốc và một số thị trường khác.

Theo Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện cả nước có hơn 5.400 làng nghề, trong đó có khoảng 2.000 làng nghề truyền thống. Với việc Việt Nam hội nhập sâu rộng và tham gia nhiều hiệp định thương mại, các sản phẩm TCMN đã có nhiều điều kiện phát triển và mở rộng thị trường xuất khẩu. Các làng nghề cũng từng bước cải tiến chất lượng, mẫu mã để tham gia vào thị trường rộng lớn. Hiện nay các DN, làng nghề đang phải chịu nhiều sức ép về cạnh tranh với hàng TCMN đến từ nhiều nước có thế mạnh trong khu vực và trên thế giới. Nguyên nhân chính mà các mặt hàng TCMN Việt Nam yếu thế hơn các sản phẩm cùng loại của các nước khác chính là mẫu mã thiết kế còn hạn chế.

Ông Lưu Duy Dần, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cho rằng, các sản phẩm TCMN của Việt Nam đều được đánh giá cao về chất lượng nhưng lại yếu về xây dựng thương hiệu và mẫu mã. Phần lớn các làng nghề đều có quy mô nhỏ, hạn chế về nguồn lực nên khó có điều kiện để đầu tư công nghệ, cải tiến mẫu mã cũng như đầu tư đội ngũ thiết kế trình độ cao. Bởi vậy thời gian qua nhiều sản phẩm chưa đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng quốc tế. Giá trị nhiều hợp đồng xuất khẩu của các DN Việt Nam cũng thường thấp hơn các nước khác như Thái Lan, Trung Quốc dù chất lượng các sản phẩm của Việt Nam không hề thua kém, thậm chí cao hơn. Đây thực sự là bài toán cần được các DN Việt khắc phục.

Theo các chuyên gia trong ngành TCMN, đầu tư cho đội ngũ thiết kế, đào tạo, bồi dưỡng tay nghề cho lao động, nhất là công tác khảo sát thị trường của các làng nghề còn yếu đã khiến sản phẩm kém tính cạnh tranh. Phần lớn các làng nghề vẫn chủ yếu sản xuất gia công theo mẫu có sẵn do đối tác đặt hàng, ít sáng tạo hoặc mới làm theo các mẫu của nước ngoài. Mẫu mã kém hấp dẫn trong khi thị trường xuất khẩu ngày càng khó tính, nên sản phẩm sẽ rất khó cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Các chuyên gia đến từ Nhật Bản cũng khuyến cáo DN và cơ sở sản xuất hàng TCMN của Việt Nam về sự cần thiết phải chuyên nghiệp hơn trong khâu thiết kế mẫu mã, sử dụng chất liệu, nếu muốn thâm nhập sâu hơn vào các thị trường khó tính như Nhật Bản, EU…

Bà Hà Thị Vinh, Chủ tịch Hiệp hội TCMN và làng nghề Hà Nội cho rằng, các sản phẩm TCMN của Hà Nội nói riêng và của cả nước nói chung đều được khách hàng đánh giá rất cao về chất lượng, đa dạng về chủng loại. Song đến nay, các sản phẩm của Việt Nam vẫn chưa tạo được thương hiệu trên thị trường quốc tế, khiến đầu ra cho sản phẩm còn hạn chế. Các DN, làng nghề mặc dù ý thức được tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển thương hiệu, cải tiến mẫu mã nhưng lại còn hạn chế về nguồn lực, không dám đầu tư đội ngũ thiết kế riêng, thiếu điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu về thị trường tiêu dùng quốc tế. Do đó, DN, cơ sở sản xuất làng nghề rất cần sự hỗ trợ của các sở, ngành trong việc cải thiện, sáng tạo mẫu mã sản phẩm.

Có thể thấy, sự khác biệt về mẫu mã là một trong những yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Để cạnh tranh trên thị trường buộc các DN, làng nghề phải có những đổi mới, kết hợp sự đa dạng mẫu mã phù hợp thị hiếu người tiêu dùng mà vẫn giữ được bản sắc, giá trị truyền thống của sản phẩm.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.500
41.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.500
41.850
Vàng SJC 5c
41.500
41.870
Vàng nhẫn 9999
41.480
41.980
Vàng nữ trang 9999
41.050
41.850