17:00 | 16/05/2018

Thu dịch vụ có tín hiệu khả quan

Quý I thường là giai đoạn thấp điểm về kinh doanh nhưng lãnh đạo một số NHTM cho biết đã hoàn thành hơn 25% kế hoạch năm nên khả năng nhiều NHTM sẽ vượt kế hoạch năm nay rất cao.

Ngân hàng kỳ vọng tăng thu dịch vụ
SCB nỗ lực tăng nguồn thu dịch vụ
Trái ngọt từ thu dịch vụ

Qua số liệu báo cáo của NH trong các ĐHCĐ vừa qua, phần lớn các NH đều cho thấy có tỷ lệ hoàn thành kế hoạch quý I cao hơn mức bình quân toàn ngành. Cụ thể, thu nhập tăng trưởng mạnh ở hầu hết các NHTMCP, trừ các NH như Kienlongbank, Eximbank, hay LienVietPostBank giảm nhẹ. Ở nhóm NHTM Nhà nước như BIDV, VietinBank, Vietcombank mức tăng trưởng mạnh nhất thuộc về BIDV.

Thu nhập từ dịch vụ đã có những cải thiện ở một số NHTM

Về cơ cấu nguồn thu, trong những tháng đầu năm nay, lãi nguồn thu tín dụng vẫn là chính trong cơ cấu thu nhập của các NH. Tuy vậy, ở quý I vừa qua là sự tăng trưởng và tỷ trọng đóng góp trong cơ cấu đã có sự phân hóa khá rõ rệt.

Trong đó, ACB, MB, Sacombank hay Vietcombank hiện nay có cơ cấu thu nhập ít phụ thuộc vào thu nhập từ tín dụng hơn những năm trước đây. Hay ở trường hợp của một số NH như Eximbank, LienVietPostBank lợi nhuận ghi nhận được trong quý I lại liên quan đến hoạt động thoái vốn tại các TCTD, hoặc các khoản thu đầu tư khác.

Điều này cho thấy, thu nhập của một vài NHTM đang ít bị lệ thuộc vào hoạt động cho vay. Điều này không chỉ giúp NH không còn bị tác động cho vay khi nền kinh tế gặp khó khăn mà còn tạo thuận lợi cho các NH hoạt động tốt trên thị trường.

Thừa nhận điều này, một chuyên gia tài chính phân tích, thời gian qua, các NH đang tiếp tục tối ưu dư địa cho vay trên vốn huy động (tỷ lệ LDR). Một số NHTM lớn như BIDV và VietinBank tỷ lệ này là khoảng 80% - mức khá cao so với chuẩn bình quân chung của toàn ngành. Một số NH như MB, Vietcombank, TPBank hay HDBank  tỷ lệ LDR cũng đang khá cao.

Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) cũng tiếp tục nhích nhẹ ở hầu hết các NH nhờ sự đóng góp ở hoạt động cho vay nhóm khách hàng DNNVV và cho vay cá nhân tiếp tục gia tăng. Đối với các nhóm khách hàng này, ngoài việc cho vay với lãi suất thị trường, khách hàng còn đang sử dụng rất nhiều sản phẩm dịch vụ khác tạo thêm nguồn thu cho NH. Theo đó, nhiều khoản vay của các NHTM hiện đã hết chu kỳ đầu  được khuyến mãi với lãi suất thấp nên tỷ lệ các khoản vay có lãi suất thương mại trên thị trường hiện ở mức khá cao.

Thực tế, thời gian qua, các NH tập trung khai thác triệt để các sản phẩm cho vay tiêu dùng cá nhân để cải thiện nguồn thu. Trong đó, các dịch vụ cho vay mua nhà để ở lãi suất thấp kỳ hạn dài, thậm chí khuyến khích cá nhân dùng thẻ tín dụng như một cách để trả nợ vay mua nhà hàng tháng cũng giúp NH có hiệu quả kinh doanh khả quan, đặc biệt ở các NH top đầu như ACB, BIDV, Sacombank, Vietcombank.

Đối với nhiều NHTM, các khoản cho vay mua nhà, sửa nhà mang lại có lợi nhuận bền vững cho NH ít rủi ro. Một lãnh đạo của VietBank nói, việc cho vay mua nhà, sửa nhà người vay đã dùng chính tài sản đó thế chấp, nên ít rủi ro về nợ xấu. Kế đó, hiện nay các sản phẩm cho vay lại này thường được các NH tích hợp như người vay phải mở tài khoản, mở thẻ để trả nợ qua thẻ. Theo đó, khi có khoản vay với NH, người vay thường có xu hướng sử dụng dịch vụ do chính NH cho vay cung cấp để tiện theo dõi với chi phí thấp hơn.

Bên cạnh đó, các NH cũng nhanh chóng mở rộng mảng dịch vụ, đặc biệt là liên kết với bảo hiểm và tăng phí dịch vụ… để tăng nguồn thu. Đơn cử SCB cho biết đang đẩy mạnh các dịch vụ thẻ tín dụng quốc tế, chuyển tiền, NH điện tử, bảo hiểm, bảo lãnh, tư vấn tài chính. Tất cả những sản phẩm trên để đạt được mục tiêu tăng trưởng 300.000 khách hàng trong năm 2018. Hoặc như HDBank đã có những chiến lược rất sớm bán chéo sản phẩm tài chính, trong đó đặc biệt chú trọng mảng thu phí để tăng thu nhập.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.150 23.250 26.012 26.742 29.910 30.389 204,22 213,92
BIDV 23.150 23.250 25.984 26.712 29.914 30.394 204,75 209,80
VietinBank 23.147 23.257 25.988 26.723 29.877 30.517 204,83 211,33
Agribank 23.150 23.240 25.988 26.362 29.929 30.390 204,71 208,43
Eximbank 23.140 23.240 25.927 26.274 29.970 30.372 205,66 208,42
ACB 23.165 23.245 25.922 26.257 30.046 30.357 205,88 208,54
Sacombank 23.102 23.264 25.949 26.410 30.023 30.435 204,85 209,42
Techcombank 23.130 23.250 25.752 26.604 29.679 30.555 204,20 211,24
LienVietPostBank 23.140 23.240 25.937 26.394 30.038 30.458 205,04 208,74
DongA Bank 23.170 23.240 25.920 26.230 29.950 30.330 202,40 208,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.200
36.370
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.200
36.350
Vàng SJC 5c
36.200
36.370
Vàng nhẫn 9999
36.170
36.570
Vàng nữ trang 9999
35.750
36.350