09:15 | 20/06/2019

Thử thách 950 điểm

Như vậy, cho dù xu hướng của thị trường ngày tới nếu xảy ra một kịch bản tiêu cực thì VN-Index cũng rất khó rời xa khỏi ngưỡng 940 điểm, còn với những cổ phiếu có nền tảng tốt, chỉ cần giảm thêm khoảng 5% lực mua có thể sẽ xuất hiện trở lại.

Tính đến hết ngày hôm qua 19/6, VN-Index đã có 3 phiên nằm dưới ngưỡng 950 điểm, vốn được xem là ngưỡng hỗ trợ mạnh trong vài tháng trở lại đây. Một loạt câu hỏi đã được đặt ra như VN-Index sẽ nằm dưới ngưỡng 950 điểm bao lâu nữa, VN-Index liệu sẽ vượt lên 950 điểm hay lại tiếp tục có một đợt sụt giảm…

Quay trở lại nửa cuối năm 2018, đã có những thời điểm VN-Index giảm xuống dưới ngưỡng 900 điểm và dao động quanh vùng 890 điểm một thời gian, nhưng cuối cùng chỉ số này lại tăng trở lại. 900 điểm hay 890 điểm dù là hỗ trợ thì vẫn có những biến động nhất định, vì vậy chưa hẳn VN-Index nằm dưới ngưỡng 950 điểm đã là tuột khỏi ngưỡng hỗ trợ. Vùng hỗ trợ vẫn có thể dao động quanh ngưỡng 940-950 điểm và cần thêm thời gian để kiểm chứng. Chẳng hạn, VN-Index đã có khoảng 3 tuần dao động quanh vùng 890 điểm, thậm chí phát ra tín hiệu có thể giảm xuống 860 điểm nhưng điều đó đã không xảy ra.

Kịch bản này hoàn toàn có thể lặp lại trong thời điểm hiện nay và phụ thuộc vào hai yếu tố: Thứ nhất, trong trường hợp diễn biến của thị trường chứng khoán quốc tế không thuận lợi, VN-Index có thể giảm xuống cận dưới của vùng hỗ trợ là 940 điểm, một số thời điểm thậm chí xuất hiện lực bán mạnh và hiện tượng margin call. Nếu Dow Jones hay các thị trường châu Á tăng tốt trong những ngày tới, khả năng VN-Index có thể quay lại vùng 960 điểm nhưng thách thức lúc này sẽ nằm ở nội tại của thị trường. Cụ thể hơn thì tháng 6 này cũng là tháng cuối của quý II/2019 và nhà đầu tư đang chờ đợi kết quả kinh doanh để củng cố kỳ vọng của mình.

Trong diễn biến từ nay đến hết tháng 6, VN-Index nhiều khả năng sẽ dao động quanh vùng 940-970 điểm

Cần làm rõ yếu tố thứ nhất, kể cả trong trường hợp thị trường chứng khoán quốc tế có diễn biến tiêu cực thì tác động đến thị trường trong nước cũng chỉ là hữu hạn. Cũng nên biết rằng, so với đầu năm nay, ít nhất khoảng 10% lượng cổ phiếu trên thị trường vẫn tăng giá. Cách tăng giá của nhóm này dù không mạnh, nhưng lại nương theo diễn biến của thị trường, hoặc theo kiểu side way up (đi ngang và tăng).

Theo đó, khi thị trường điều chỉnh giảm, một số cổ phiếu dù tăng trưởng trung dài hạn vẫn giảm theo, nhưng chỉ cần một vài phiên hồi phục, giá của nhóm này lại nổi trội hơn tỷ lệ chung, điều này đã diễn ra với những cổ phiếu như BVH (sau khi tạo đáy 70.000 đồng/cổ phiếu), FPT, DHC, PTB…

Như vậy, cho dù xu hướng của thị trường ngày tới nếu xảy ra một kịch bản tiêu cực thì VN-Index cũng rất khó rời xa khỏi ngưỡng 940 điểm, còn với những cổ phiếu có nền tảng tốt, chỉ cần giảm thêm khoảng 5% lực mua có thể sẽ xuất hiện trở lại.

Tuy nhiên, thanh khoản khớp lệnh của thị trường với chỉ trên dưới 2.500 tỷ đồng/phiên cũng khó đẩy cho VN-Index có thể tăng mạnh hơn. Mặt khác, việc thị trường có những biến động khá mạnh và phụ thuộc vào diễn biến của thị trường thế giới cũng có thể kéo theo dòng tiền đổ vào thị trường phái sinh. Ngoài ra, việc xuất hiện những sản phẩm phái sinh mới cũng kéo theo dòng tiền từ thị trường tập trung phân tán sang kênh này. Nói tóm lại, trong diễn biến từ nay đến hết tháng 6, VN-Index nhiều khả năng sẽ dao động quanh vùng 940-970 điểm. Tuy nhiên, nếu xét riêng từng nhóm cổ phiếu có thể dẫn đến một số bất ngờ.

Chẳng hạn, những nhóm hứa hẹn khả năng có kết quả kinh doanh tốt sẽ “chạy trước” nhờ vào những thông tin, dự báo trước. Tuy nhiên, nhóm này sẽ không tăng mạnh mà sẽ tăng từ từ, tích lũy rồi tăng. Một nhóm cổ phiếu có tính dẫn dắt những tháng qua sẽ được thị trường xem xét kỹ lưỡng hơn về kết quả kinh doanh và thường sẽ chỉ biến động mạnh khi tin tức chính thức xuất hiện.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.550
41.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.550
41.850
Vàng SJC 5c
41.550
41.870
Vàng nhẫn 9999
41.530
41.980
Vàng nữ trang 9999
41.050
41.850