08:00 | 05/02/2019

Thử thách cho chúng ta thêm bản lĩnh

Điều hành chính sách tiền tệ của NHNN tiếp tục linh hoạt, hướng tới ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, góp phần duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý.

Nhất quán trong điều hành CSTT, củng cố lòng tin thị trường
Điều hành chính sách tiền tệ: Điểm tựa vững chắc cho nền kinh tế
Chiến lược ngành Ngân hàng: Những tín hiệu tích cực
Phó Thống đốc Nguyễn Thị Hồng

Năm 2018 trong bối cảnh kinh tế toàn cầu có nhiều biến động, tác động không nhỏ đến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ trong nước nhưng tăng trưởng kinh tế Việt Nam vẫn vượt mục tiêu đề ra, đạt 7,08%; lạm phát được kiểm soát ở mức 3,54%; xếp hạng tín nhiệm của quốc gia được nâng lên. Ngành Ngân hàng đã có đóng góp tích cực vào thành quả chung đó.

Trả lời phỏng vấn Thời báo Ngân hàng, Phó Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho rằng, năm 2019 Việt Nam có nhiều thuận lợi nhưng vẫn còn phải đối mặt với  nhiều thách thức. Điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của NHNN tiếp tục linh hoạt, hướng tới ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, góp phần duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý.

Nhìn lại năm 2018, Phó Thống đốc thấy điểm nổi bật nào trong điều hành CSTT?

Điểm nổi bật thứ nhất là sự kiên định và nhất quán với mục tiêu điều hành là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng. Năm 2018, trên cơ sở bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ trong nước và quốc tế, NHNN đã điều hành CSTT một cách chủ động, linh hoạt để kiểm soát tốt tiền tệ, duy trì lạm phát lõi trong khoảng 1,4-1,6%, tạo dư địa để Chính phủ thực hiện điều chỉnh giá các mặt hàng và dịch vụ nhà nước quản lý. Kết quả năm 2018, lạm phát bình quân ở mức 3,54% đạt được mục tiêu Quốc hội đề ra.

Điểm nổi bật thứ hai là khả năng thích ứng của chính sách đối với những tác động của kinh tế thế giới được tăng cường trong bối cảnh  độ mở của nền kinh tế Việt Nam đến nay tính theo tổng kim ngạch xuất nhập khẩu/GDP đã lên tới trên 200%,  dòng vốn FDI, FII chu chuyển khá lớn. Điều cần nhấn mạnh thêm là trong bối cảnh Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất và có tới trên 80 lượt tăng lãi suất của các Ngân hàng Trung ương trên thế giới, nhưng với những giải pháp điều hành phù hợp, đúng thời điểm, đúng liều lượng, phán đoán được tình hình, mặt bằng lãi suất cơ bản ổn định, tỷ giá trung tâm chỉ tăng 1,8%, tỷ giá liên ngân hàng tăng 2,2% (trong khi nhiều đồng tiền trên thế giới và khu vực mất giá mạnh).

Các chuyên gia cho rằng NHNN điều chỉnh tăng tín dụng ở mức thấp để tăng trưởng bền vững?

Việc kiểm soát chặt chẽ tín dụng là phù hợp với bối cảnh hiện nay, khi mà dư nợ tín dụng của Việt Nam đã đạt mức trên 130%/GDP. Như chúng ta đã biết, nguồn vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế đến từ nhiều kênh khác nhau, chẳng hạn  như nguồn vốn từ ngân sách, từ chính các doanh nghiệp và người dân, nguồn vốn từ nước ngoài...

Tuy nhiên, với một quốc gia đang phát triển, nhu cầu vốn đầu tư lớn, trong khi thị trường vốn chưa thực sự phát triển thì nguồn vốn tín dụng của  hệ thống ngân hàng vẫn đóng vai trò quan trọng, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế. Thực tế này không cho phép chúng ta cắt giảm tăng trưởng tín dụng đột ngột, mà cần có lộ trình điều chỉnh để nền kinh tế có sự thích ứng dần. Chính vì thế, những năm gần đây NHNN chủ trương kiểm soát tốc độ tăng của tín dụng.

Từ đầu năm 2018 căn cứ mục tiêu tăng trưởng kinh tế và lạm phát Quốc hội giao, NHNN đã xây dựng định hướng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 17%, có điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế. Bên cạnh đó, NHNN cũng tích cực triển khai các chương trình tín dụng ngành, lĩnh vực như cho vay phục vụ sản xuất, thu mua lúa gạo, cho vay chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và chương trình giảm nghèo bền vững...

Diễn biến tăng trưởng tín dụng trong năm đã theo đúng định hướng điều hành của NHNN: mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn, hiệu quả; vốn được tập trung cho các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, hạn chế vào các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro… Năm 2018 tín dụng tăng dưới 14%, nhưng tăng trưởng kinh tế tiếp tục vượt mục tiêu, cao nhất trong vòng 11 năm qua đã cho thấy chất lượng tín dụng có những dấu hiệu tích cực.

Năm qua nhiều đồng tiền trên thế giới và khu vực mất giá nhưng tỷ giá trong nước vẫn được kiểm soát tốt, phải chăng do chúng ta có lượng dự trữ ngoại hối lớn, thưa Phó Thống đốc?

Đúng là quỹ dự trữ ngoại hối ở mức cao kỷ lục trong suốt cả năm 2018 đã tạo điều kiện để NHNN can thiệp thị trường khi cần thiết. Song yếu tố quan trọng là việc bám sát diễn biến của thị trường quốc tế, trong nước và điều hành tỷ giá trung tâm phù hợp.

Việt Nam hiện là đối tác thương mại, đầu tư của rất nhiều nước trên thế giới, năm 2018 tỷ giá trung tâm tăng 1,8% so với năm 2017, tỷ giá liên ngân hàng tăng 2,2% so với năm 2017. Nếu so sánh với các nước trong khu vực thì đồng tiền của Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia ổn định nhất (các đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi mất giá khoảng 3,5 - 18%).

Không chỉ điều hành tỷ giá trung tâm mà NHNN còn kết hợp đồng bộ các công cụ chính sách khác như lãi suất, điều hành thanh khoản tiền đồng, bán kỳ hạn ngoại tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa để đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra. Cùng với đó sự chủ động trong truyền thông với thông điệp từ Thống đốc khẳng định: NHNN sẵn sàng các giải pháp can thiệp thị trường khi cung - cầu ngoại tệ có vấn đề để kiểm soát tỷ giá, tránh biến động tỷ giá tác động đến ổn định vĩ mô, gây áp lực lên lạm phát, đặc biệt là tâm lý thị trường. Trong điều kiện thị trường hiện nay chúng ta có đầy đủ công cụ và phương án cần thiết để kiểm soát sự ổn định của tỷ giá, duy trì ổn định của nền kinh tế.

Do đó, năm 2018 mặc dù có một số thời điểm thị trường biến động, tỷ giá tăng nhưng đã nhanh chóng ổn định sau các giải pháp điều hành của NHNN. Thị trường thanh khoản tốt, các TCTD đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của doanh nghiệp và người dân.

Nhiều yếu tố cho thấy năm 2019 thị trường thế giới sẽ tiếp tục có diễn biến phức tạp. Phó Thống đốc có thể cho biết định hướng điều hành CSTT, giải pháp để bảo vệ thành quả chúng ta đã đạt được?

Kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế là mục tiêu NHNN luôn kiên định trong điều hành CSTT. Những năm qua mặc dù CSTT tiếp tục đạt được những thành công nhưng sang năm 2019 sẽ chịu áp lực nhiều hơn. Dự báo rủi ro trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế gia tăng, ảnh hưởng của xung đột thương mại, chính trị sẽ tiếp diễn. Bên cạnh đó những diễn biến chính trị từ cuộc bầu cử các nền kinh tế mới nổi sẽ ảnh hưởng sâu rộng đối với lập trường chính sách và sự ổn định thị trường của các nước.

Đặc biệt chính sách thắt chặt tiền tệ của Fed ngày càng tăng với kế hoạch tiếp tục tăng lãi suất hai lần trong năm 2019, cộng thêm tác động từ cuộc chiến tranh thương mại sẽ khiến các nước gia tăng các biện pháp tài chính phòng vệ… Năm nay, Quốc hội và Chính phủ đã đặt ra mục tiêu hàng đầu là tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Mục tiêu tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 6,6 - 6,8%; tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) khoảng 4%. Trong khi đó lộ trình điều chỉnh giá một số mặt hàng do nhà nước quản lý như giáo dục, y tế, điện, tăng lương cơ bản… vẫn tiếp tục được thực hiện.

Nhiệm vụ đặt ra cho CSTT vẫn là kiểm soát lạm phát, đồng thời tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định lãi suất, tỷ giá, tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước khi có điều kiện. Theo đó, CSTT sẽ phải thận trọng, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ hơn nữa với chính sách tài khóa, để đảm bảo hài hòa với mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Trên cơ sở mục tiêu của Quốc hội và Chính phủ, NHNN sẽ điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT với thời điểm, liều lượng hợp lý để phản ứng kịp thời, phù hợp với diễn biến trên thị trường thế giới, trong nước; kiểm soát tăng trưởng tín dụng hợp lý, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản  xuất kinh doanh, nhất là lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như chứng khoán, bất động sản, tín dụng cho các nhóm khách hàng lớn; tăng cường công tác thanh tra giám sát ngân hàng, phát hiện phòng ngừa và ngăn chặn xử lý kịp thời rủi ro, vi phạm pháp luật; đảm bảo trật tự, kỷ cương trên thị trường tiền tệ, ngoại hối, CSTT hiệu quả…

Xin trân trọng cảm ơn Phó Thống đốc!

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.340 25.954 26.814 27.989 28.437 212,68 221,06
BIDV 23.220 23.340 25.920 26.666 27.952 28.431 216,57 222,10
VietinBank 23.203 23.333 25.895 26.690 27.890 28.530 216,31 223,31
Agribank 23.215 23.320 25.926 26.322 27.971 28.438 216,98 220,95
Eximbank 23.210 23.320 25.936 26.295 28.055 28.443 217,30 222,30
ACB 23.190 23.310 25.901 26.258 28.136 28.452 217,28 220,27
Sacombank 23.183 23.343 25.947 26.406 28.089 28.498 216,47 221,03
Techcombank 23.195 23.335 25.700 26.561 27.733 28.593 216,30 223,68
LienVietPostBank 23.205 23.325 25.886 26.368 28.087 28.521 217,36 221,90
DongA Bank 23.230 23.320 25.980 26.220 28.070 29.350 214,60 220,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.250
42.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.250
41.600
Vàng SJC 5c
41.250
41.620
Vàng nhẫn 9999
41.250
41.750
Vàng nữ trang 9999
40.800
41.600