10:27 | 21/11/2018

Thương hiệu: Điểm đột phá gia tăng giá trị nông sản

Tháng 11/2017 tại Ma Cao, Trung Quốc, gạo ST21, ST24 của Việt Nam đã vượt qua hàng trăm loại gạo đến từ khắp thế giới và vinh danh trong top 3 gạo ngon nhất cùng gạo của Thái Lan, gạo của Campuchia. Điều này không chỉ là niềm tự hào mà còn nó ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế, đến giá trị xuất khẩu gạo.

Tháng 6/2018, xuất khẩu gạo Việt Nam đã đạt đỉnh cao mới về giá trị khi gạo 5% tấm xuất khẩu đạt giá cao nhất là 450.000 USD/tấn. Trong khi đó, gạo Thái Lan mới có 435.000 USD/tấn và gạo Ấn Độ có 410.000 USD/tấn. Báo cáo từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) cho biết, lũy kế đến hết tháng 10, khối lượng gạo xuất khẩu đạt 5,2 triệu tấn với kim ngạch 2,6 tỷ USD, tăng 1,7% về khối lượng và 14,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

Với Hapro, sau việc đưa giống gạo thơm ST21 trở thành một mặt hàng rất được ưa chuộng trên thị trường Trung Quốc, tháng 6/2018 gạo Hapro Đồng Tháp đã được Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ cấp code xuất khẩu vào thị trường Mỹ (FDA) và xuất khẩu thành công lô hàng gạo đầu tiên với khối lượng 750 tấn vào thị trường này. Những đột phá này đã góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu gạo 9 tháng năm 2018 của Hapro đạt gần 18 triệu USD tăng 22% so với cùng kỳ năm 2017.

“Gạo của chúng ta có giá dẫn đầu, phải chăng sự vinh danh sản phẩm đã tác động rất sâu và tạo ra một giá trị mới của gạo Việt Nam?”, Đại biểu quốc hội Nguyễn Thanh Xuân (TP. Cần Thơ) đặt vấn đề khi nói về việc phát triển thương hiệu cho nông sản Việt.

Thực tế tại Hapro cũng chứng minh việc xây dựng thương hiệu góp phần gia tăng giá trị xuất khẩu không chỉ cá biệt ở gạo. Như mặt hàng hạt điều, bên cạnh việc tiếp tục xuất khẩu các lô đóng bao 30kg như trước đây, Hapro đã tập trung phát triển các mặt hàng chế biến thành phẩm như hạt điều rang muối, chiên bơ... theo khẩu vị của khách hàng, đóng gói bao bì mang thương hiệu Hapro vào bán trực tiếp tại các hệ thống bán lẻ ở nước ngoài. Bước đi có tính đột phá này đã góp phần đưa giá trị xuất khẩu hạt điều của Hapro trong 9 tháng đạt 62 triệu USD tăng 15%.

Câu chuyện này một lần nữa nhấn mạnh vai trò của việc gia tăng giá trị hàng hóa nông sản của Việt Nam qua việc xây dựng thương hiệu mà các đại biểu đã đưa ra trong kỳ họp Quốc hội này khi mà hiện hầu hết các nông sản Việt Nam vẫn không có “tên tuổi” trên bản đồ thế giới cho dù xuất khẩu nhiều mặt hàng cao nhất thế giới.

Nhấn mạnh công bố của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là hồ tiêu, điều, ca cao xuất khẩu dẫn đầu thế giới; cà phê đứng hàng thứ hai, xuất khẩu gạo đứng hàng thứ ba, “nhưng nếu xem kỹ thì loại giống nào, ở đâu nuôi trồng tốt, đạt chất lượng cao nhất thì câu hỏi này xem ra rất khó trả lời. Khó trả lời rõ ràng, bởi vì thương hiệu của chúng ta chưa rõ”, đại biểu Quốc hội Trương Anh Tuấn (Nam Định) đặt vấn đề.

Nhắc lại một trong 3 điểm sáng nổi bật của nền kinh tế là sự tăng trưởng cao của ngành nông nghiệp và nông lâm thủy sản với kim ngạch xuất khẩu dự kiến 4,0 - 4,5 tỷ USD trong năm 2018, song đại biểu Quốc hội Nguyễn Thanh Xuân (Cần Thơ) cũng chỉ ra xuất khẩu nhiều nhưng thô là chính. Chưa có sản phẩm mang thương hiệu Việt, chưa thể ghi là "made in Vietnam" mà hầu hết mang thương hiệu của các nhà nhập khẩu và chỉ ghi là sản phẩm của Việt Nam.

“Tôi nghĩ rằng nếu có thương hiệu thì kim ngạch xuất khẩu hàng nông, thủy sản có thể tăng lên gấp nhiều lần, không phải là 30 tỷ đôla mà có thể lên đến 50-60 tỷ đôla”, ông Xuân kỳ vọng và nhấn mạnh, trong thời gian tới, nếu ứng dụng nông nghiệp và thủy sản công nghệ cao, nâng cao sản lượng cùng với có thương hiệu thì chắc chắn đóng góp vào vai trò của ngành nông nghiệp sẽ tiếp tục tăng, nhất là ở những vùng nông nghiệp trọng điểm của quốc gia.

Đề xuất ngành nông nghiệp sớm có những vinh danh top sản phẩm dẫn đầu của các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam, qua đó xây dựng những thương hiệu tự hào của nông nghiệp Việt Nam, ông Tuấn nhấn mạnh việc này còn giúp cho nông nghiệp, cho nông dân có những định hướng cụ thể trong quá trình sản xuất, tạo những giá trị mới cho sản phẩm nông sản.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.472 26.346 29.403 29.904 205,46 219,78
BIDV 23.145 23.265 25.550 26.305 29.497 30.058 210,52 214,35
VietinBank 23.132 23.262 25.475 26.310 29.373 30.013 210,35 216,35
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.497 25.849 29.521 29.930 211,71 214,65
ACB 23.130 23.255 25.502 25.841 29.590 29.909 211,60 214,42
Sacombank 23.108 23.268 25.517 25.974 29.571 29.974 210,87 215,41
Techcombank 23.140 23.280 25.263 26.257 29.193 30.110 210,19 217,35
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.427 25.886 29.542 29.967 211,19 215,03
DongA Bank 23.160 23.250 25.520 25.840 29.530 29.920 208,30 214,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.470
41.760
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.470
41.740
Vàng SJC 5c
41.470
41.760
Vàng nhẫn 9999
41.460
41.910
Vàng nữ trang 9999
40.940
41.740