14:50 | 14/06/2018

Tích cực triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ

Thông tin này được ông Trần Văn Tần – Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) chia sẻ tại buổi họp báo thông báo về kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2018, do NHNN tổ chức mới đây.

Đến hết tháng 5, tín dụng tăng 6,16%
Ngân hàng Nhà nước: Mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn
Đảm bảo các chương trình tín dụng chính sách

Theo ông Trần Văn Tần, 6 tháng đầu năm các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã được các TCTD tích cực triển khai.

Đơn cử như dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch đạt khoảng 40.000 tỷ đồng với 14.723 khách hàng đang có dư nợ; Cho vay để ngư dân đóng mới, nâng cấp tàu cá theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ đạt  trên 10.650 tỷ đồng; Cho vay hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo Quyết định 68/2013/QĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ đạt khoảng 4.800 tỷ đồng; Và dư nợ các chương trình tín dụng chính sách đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách tại NHCSXH đạt 179.048 tỷ đồng, tăng 4,8% so với cuối năm 2017 với hơn 6,7 triệu khách hàng còn dư nợ.

Các TCTD tích cực triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ

Trong 6 tháng đầu năm 2018, NHNN chi nhánh các tỉnh/thành phố đã phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức trên 300 buổi gặp gỡ, đối thoại giữa ngân hàng và doanh nghiệp. Qua chương trình, các ngân hàng đã giải ngân hơn 210.000 tỷ đồng cho hơn 20.000 doanh nghiệp và một số đối tượng khác; thực hiện các giải pháp cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ, giảm lãi suất cho vay đối với các khoản vay cũ cho gần 1.900 doanh nghiệp và gần 600 khách hàng khác, giúp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn ổn định sản xuất.

Bên cạnh đó, tín dụng tiếp tục được đẩy mạnh tập trung cho các lĩnh vực ưu tiên, với các mức tăng trưởng cao. So với cuối năm 2017, tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn tăng 5,8%; Tín dụng cho lĩnh vực xuất khẩu tăng 15,64%; Tín dụng đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 6,29%; Tín dụng đối với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển tăng 5,42%; Tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 2,61%.

Đại diện NHNN cũng cho biết, nhờ triển khai đồng bộ và quyết liệt các giải pháp tín dụng, tín dụng đã tăng ngay từ đầu năm và tăng đều qua các tháng, đến ngày 31/5/2018, đạt trên 6,7 triệu tỷ đồng, tăng 6,16% so với cuối năm 2017, đã góp phần đạt chỉ tiêu GDP quý 1 tăng 7,38%, mức tăng cao nhất trong 10 năm qua.

Về định hướng điều hành chính sách tín dụng những tháng cuối năm, NHNN cho biết, sẽ tiếp tục điều hành tín dụng theo hướng mở rộng tín dụng có hiệu quả gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, hướng tới chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đề ra từ đầu năm là 17%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tếnhằm phù hợp với mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức 6,7% và lạm phát bình quân khoảng 4% được Quốc hội và Chính phủ đặt ra từ đầu năm,

Để đạt được định hướng này, NHNN sẽ tiếp tục tập trung thực hiện điều hành các giải pháp nhằm thực hiện mở rộng tín dụng có hiệu quả gắn với nâng cao chất lượng tín dụng và hướng dòng vốn tín dụng vào lĩnh vực sản xuất – kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên; Kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro (như kinh doanh bất động sản, các dự án BOT, BT giao thông), đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng; Kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách tạo thuận lợi cho hệ thống TCTD mở rộng tín dụng phục vụ phát triển kinh tế, đi đôi với an toàn hoạt động.

Cùng với đó, NHNN tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và triển khai có hiệu quả các chương trình tín dụng đối với ngành, lĩnh vực, tín dụng chính sách theo chủ trương của Chính phủ, cụ thể như: Khẩn trương hoàn thiện các văn bản hướng dẫn sau khi Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2015/NĐ-CP; Phối hợp hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật hỗ trợ DNNVV nhằm tạo khung khổ pháp lý và điều kiện cho các DNNVV tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng…

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.155 23.245 26.189 26.924 29.492 29.965 20838 21871
BIDV 23.155 23.245 26.171 26.534 29.508 29.968 20926 21289
VietinBank 23.142 23.242 26.110 26.925 29.442 30.002 20905 21555
Agribank 23.150 23.235 26.161 26.536 29.506 29.963 20914 21276
Eximbank 23.140 23.240 26.249 26.601 29.597 29.994 212,09 214,93
ACB 23.160 23.240 26.258 26.596 29.640 29.947 212,25 214,99
Sacombank 23.157 23.259 26.293 26.657 29.630 29.984 212,32 215,42
Techcombank 23.135 23.245 26.005 26.723 29.212 30.042 210,90 216,50
LienVietPostBank 23.140 23.240 26.195 26.658 29.607 29.023 211,65 215,51
DongA Bank 23.160 23.230 26.270 26.570 29.560 29.930 211,00 215,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.670
Vàng SJC 5c
36.490
36.690
Vàng nhẫn 9999
36.370
36.770
Vàng nữ trang 9999
35.920
36.620